[SEASON 2 • ScientiFact #10] – CHỈ SỐ IQ THỰC SỰ NÓI LÊN ĐIỀU GÌ?

(English caption below)

Đừng quên cuộc thi viết truyện mang yếu tố khoa học Polyédron vẫn đang diễn ra nhé!

Chi tiết cuộc thi tại: http://bit.ly/PolyédronWritingComp

Link nộp bài dự thi: http://bit.ly/baiduthiPolyédron

Deadline nộp bài dự thi: 13/07/2021

Năm 1905, các nhà tâm lý học Alfred Binet và Theodore Simon đã thiết kế một bài kiểm tra cho những trẻ em gặp khó khăn ở trường học ở Pháp. Được thiết kế để xác định những đứa trẻ cần sự chú ý của từng cá nhân, phương pháp của họ đã hình thành nền tảng của bài kiểm tra IQ.

Bắt đầu từ cuối thế kỷ 19, các nhà nghiên cứu đã đưa ra giả thuyết rằng các khả năng nhận thức như lý luận bằng lời nói, trí nhớ làm việc và kỹ năng hình ảnh – không gian phản ánh trí thông minh cơ bản, hay còn gọi là yếu tố g (g factor). Simon và Binet đã thiết kế một loạt các bài kiểm tra để đo lường từng khả năng này và kết hợp các kết quả thành một điểm duy nhất. Các câu hỏi đã được điều chỉnh cho từng nhóm tuổi và điểm số của trẻ phản ánh mức độ hoạt động của chúng so với những người khác cùng tuổi. Chia điểm của ai đó cho tuổi của họ và nhân kết quả với 100 sẽ mang lại thương số thông minh hay còn gọi là IQ (Intelligence Quotient). Ngày nay, điểm 100 thể hiện mức trung bình của một dân số mẫu, với 68% dân số đạt từ 85 đến 115 điểm.

Simon và Binet nghĩ rằng các kỹ năng mà bài kiểm tra của họ đánh giá sẽ phản ánh trí thông minh chung. Nhưng cả khi đó và bây giờ, không có định nghĩa nào được thống nhất về trí thông minh nói chung. Điều đó đã mở ra cánh cửa cho mọi người sử dụng bài kiểm tra để phục vụ cho những định kiến ​​của họ về trí thông minh, và cứ như vậy, chỉ số IQ đã chứng kiến những trang lịch sử đen tối nhất của nhân loại. Ngày hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau khám phá và trả lời câu hỏi vô cùng quan trọng: “Chỉ số IQ thực sự nói lên điều gì?”

Những gì bắt đầu như một cách để xác định những người cần trợ giúp học tập nhanh chóng được sử dụng để phân loại mọi người theo những cách khác, thường là để phục vụ cho những hệ tư tưởng còn nhiều sai sót. Một trong những triển khai quy mô lớn đầu tiên xảy ra ở Hoa Kỳ trong Thế chiến I, khi quân đội sử dụng bài kiểm tra IQ để phân loại tân binh và sàng lọc họ để đào tạo sĩ quan. Vào thời điểm đó, nhiều người tin vào thuyết ưu sinh, quan niệm rằng các đặc điểm di truyền mong muốn và không mong muốn có thể và nên được kiểm soát ở người thông qua việc lai tạo chọn lọc. Có nhiều vấn đề với dòng suy nghĩ này, trong số đó có ý kiến ​​cho rằng trí thông minh không chỉ cố định và kế thừa mà còn liên quan đến chủng tộc của một người. Dưới ảnh hưởng của thuyết ưu sinh, các nhà khoa học đã sử dụng kết quả của sáng kiến ​​quân sự để đưa ra những tuyên bố sai lầm rằng một số nhóm chủng tộc nhất định có trí tuệ vượt trội hơn những nhóm khác. Không tính đến việc nhiều tân binh được kiểm tra là những người mới nhập cư đến Hoa Kỳ, những người không được giáo dục chính quy hoặc tiếp xúc với ngôn ngữ tiếng Anh, họ đã tạo ra một hệ thống phân cấp tình báo sai lầm của các nhóm dân tộc. Sự giao thoa giữa thuyết ưu sinh và kiểm tra IQ không chỉ ảnh hưởng đến khoa học mà còn ảnh hưởng đến chính sách. Vào năm 1924, bang Virginia đã tạo ra chính sách cho phép triệt sản những người có điểm IQ thấp – một quyết định mà Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã giữ nguyên. Ở Đức Quốc xã, chính phủ cho phép sát hại trẻ em dựa trên chỉ số IQ thấp.

Sau Holocaust và Phong trào Dân quyền, việc sử dụng phân biệt đối xử của các bài kiểm tra IQ đã bị thách thức trên cả cơ sở đạo đức và khoa học. Các nhà khoa học bắt đầu thu thập bằng chứng về tác động của môi trường đối với chỉ số IQ. Ví dụ: khi các bài kiểm tra IQ được hiệu chuẩn lại định kỳ trong thế kỷ 20, các thế hệ mới đạt điểm số trong các bài kiểm tra cũ liên tục cao hơn so với mỗi thế hệ trước. Hiện tượng này, được gọi là Hiệu ứng Flynn, xảy ra quá nhanh để có thể được gây ra do các đặc điểm tiến hóa. Thay vào đó, nguyên nhân có thể là do môi trường – giáo dục được cải thiện, chăm sóc sức khỏe tốt hơn và dinh dưỡng tốt hơn.

Vào giữa thế kỷ 20, các nhà tâm lý học cũng đã cố gắng sử dụng các bài kiểm tra IQ để đánh giá những thứ khác ngoài trí thông minh nói chung, đặc biệt là tâm thần phân liệt, trầm cảm và các tình trạng tâm thần khác. Những chẩn đoán này một phần dựa vào đánh giá lâm sàng của những người đánh giá và sử dụng một tập hợp con của các bài kiểm tra được sử dụng để xác định chỉ số IQ – một nghiên cứu sau này được phát hiện không mang lại thông tin hữu ích về mặt lâm sàng. Ngày nay, các bài kiểm tra IQ sử dụng nhiều yếu tố thiết kế và loại câu hỏi tương tự như các bài kiểm tra ban đầu, mặc dù chúng tôi có các kỹ thuật tốt hơn để xác định sự thiên vị tiềm ẩn trong bài kiểm tra. Chúng không còn được sử dụng để chẩn đoán các tình trạng tâm thần. Nhưng một thực tế có vấn đề tương tự sử dụng điểm kiểm tra phụ đôi khi vẫn được sử dụng để chẩn đoán khả năng học tập kém, theo lời khuyên của nhiều chuyên gia. Các nhà tâm lý học trên khắp thế giới vẫn sử dụng các bài kiểm tra IQ để xác định khuyết tật trí tuệ, và kết quả có thể được sử dụng để xác định hỗ trợ giáo dục thích hợp, đào tạo việc làm và hỗ trợ cuộc sống.

Kết quả kiểm tra IQ đã được sử dụng để biện minh cho những chính sách khủng khiếp và những ý thức hệ vô căn cứ về mặt khoa học. Điều đó không có nghĩa là bản thân bài kiểm tra là vô giá trị — trên thực tế, nó thực hiện rất tốt việc đo lường các kỹ năng lập luận và giải quyết vấn đề mà nó đặt ra. Nhưng điều đó không giống với việc đo lường tiềm năng của một người. Mặc dù có nhiều vấn đề chính trị, lịch sử, khoa học và văn hóa phức tạp được bao hàm trong bài kiểm tra IQ, nhưng ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu đồng ý về điểm này và bác bỏ quan điểm cho rằng các cá nhân có thể được phân loại bằng một số điểm duy nhất.

___________________

[SEASON 2 • ScientiFact #10] – WHAT DOES YOUR IQ SCORE REVEAL?

In 1905, psychologists Alfred Binet and Theodore Simon designed a test for children who had difficulty in school in France. Designed to identify children who needed individual attention, their method formed the basis of the IQ test.

Beginning in the late 19th century, researchers hypothesized that cognitive abilities such as verbal reasoning, working memory, and visual-spatial skills reflect basic intelligence, also known as the g factor (g factor). Simon and Binet designed a series of tests to measure each of these abilities and combine the results into a single score. The questions were adjusted for each age group, and the children’s scores reflected how active they were compared to others of the same age. Dividing one’s score by their age and multiplying the result by 100 yields the intelligence quotient, also known as IQ (Intelligence Quotient). Today, 100 scores represent the average of a sample population, with 68% of the population scoring between 85 and 115.

Simon and Binet think that the skills their test measures will reflect general intelligence. But both then and now, there is no agreed-upon definition of intelligence as a whole. That opened the door for people to use the test to cater to their preconceptions about intelligence, and just like that, IQ has seen the darkest pages of history. mankind. Today, we will explore and answer the very important question: “What does IQ really say?”

What begins as a way to identify people in need of academic help is quickly used to categorize people in other ways, often to cater to flawed ideologies. One of the first large-scale deployments occurred in the United States during World War I, when the military used an IQ test to categorize recruits and screen them for officer training. At the time, many people believed in eugenics, the notion that desirable and undesirable genetic traits could and should be controlled in humans through selective breeding. There are many problems with this line of thinking, among them, the idea that intelligence is not only fixed and inherited but also related to one’s race. Under the influence of eugenics, scientists have used the results of the military initiative to falsely claim that certain racial groups are intellectually superior to others. Not taking into account that many of the recruits tested were recent immigrants to the United States who had no formal education or exposure to the English language, they created a false intelligence hierarchy of ethnic groups. The intersection of eugenics and IQ testing affects not only science but also policy. In 1924, the state of Virginia created a policy allowing the sterilization of people with low IQ scores – a decision that the US Supreme Court upheld. In Nazi Germany, the government allowed the killing of children based on low IQ.

After the Holocaust and the Civil Rights Movement, the discriminatory use of IQ tests was challenged on both ethical and scientific grounds. Scientists began to gather evidence about the impact of the environment on IQ. For example: when IQ tests were periodically recalibrated during the 20th century, new generations scored consistently higher on older tests than each previous generation. This phenomenon, known as the Flynn Effect, happens too quickly to be caused by evolutionary traits. Instead, the cause may be an improved environment – education, better health care, and better nutrition.

In the mid-20th century, psychologists also attempted to use IQ tests to assess other things than general intelligence, particularly schizophrenia, depression, and other mental conditions. These diagnoses were based in part on the clinical judgment of the assessors and used a subset of the tests used to determine IQ scores – a later study was found to yield no clinically useful information. Today, IQ tests use many of the same design elements and question types as the original tests, although we have better techniques for identifying potential bias in the test. They are no longer used to diagnose psychiatric conditions. But a similarly problematic practice using sub-test scores is still sometimes used to diagnose academic impairment, on the advice of many experts. Psychologists around the world still use IQ tests to identify an intellectual disability, and the results can be used to determine appropriate educational support, job training, and support life.

IQ test results have been used to justify terrible policies and scientifically baseless ideologies. That’s not to say the test itself is worthless — in fact, it does a great job of measuring the reasoning and problem-solving skills it poses. But that is not the same as measuring one’s potential. Despite the complex political, historical, scientific, and cultural issues involved in IQ testing, a growing number of researchers agree on this point and reject the notion that individual Multipliers can be classified by a unique score.

___________________

Mọi thông tin xin liên hệ – For all inquiries, please contact:
Đặng Minh Trung: (+84) 94 190 1469 (Trưởng ban Tổ chức – Head of Project)
Trần Đình Phương Uyên: (+84) 36 643 7691 (Trưởng ban Đối ngoại – Head of Public Relations)
Email: prismproject20@gmail.com
Website: https://prismproject20.com/
Facebook: https://www.facebook.com/prismproject20/

[SEASON 2 • ScientiFact #8] – 2 LÍT NƯỚC MỘT NGÀY LIỆU CÓ ĐỦ?

(English caption below)

Hồi nhỏ, chúng ta được khuyên là mỗi ngày nên uống ít nhất 2 lít nước, nhưng LỜI KHUYÊN NÀY CÓ HOÀN TOÀN CHÍNH XÁC?

Đầu tiên hãy cùng nói về tác dụng của việc uống đủ nước.

Nước giúp cơ thể người đào thải độc tố. Khi uống nước điều độ, các phân tử nước đi sâu vào bên trong xuyên qua các màng lipid và lấy đi độc tố tích tụ trong cơ thể rồi đào thải ra ngoài. Hơn nữa, chúng còn kết hợp với các phân tử oxy, giúp vận chuyển các chất dinh dưỡng, qua đó chuyển hóa nuôi dưỡng từng tế bào, loại bỏ các gốc tự do gây hại.

Uống đủ nước sẽ bù nước cho cơ thể. 70% cơ thể người là nước, và nếu mất từ 1-3% trọng lượng cơ thể do mất nước, con người sẽ bị giảm tập trung, mất trí nhớ, đau đầu và lo âu. Thông thường, nước mất đi qua hơi thở, mồ hôi hay nước tiểu. Khi vận động hay khi trời nắng nóng, quá trình chuyển hóa trong cơ thể nhanh hơn cũng gây mất nước. Lúc này, cần bổ sung lượng nước đã mất cho cơ thể.

Uống đủ nước cũng có lợi cho da. Nước sẽ len lỏi đến từng biểu bì làm cho da căng bóng. Các tế bào dưới da được cung cấp đủ nước sẽ khỏe mạnh, còn các chất độc hại sẽ không đọng lại gây tích tụ và bịt kín lỗ chân lông. Điều này làm cho da hồng hào, khỏe mạnh.

Ngoài ra, uống nước giúp ngăn ngừa táo bón và làm hệ tiêu hóa tốt hơn. Nếu cơ thể không có đủ nước, các tế bào sẽ hấp thụ hết lượng nước còn lại khiến cho ruột già bị khô, các chất thải ở đó bị đông cứng lại, không có chất bôi trơn đẩy ra ngoài gây bệnh táo bón có hại cho sức khỏe.

Hơn nữa, lợi ích của việc uống nước nhiều còn giúp làm loãng muối và ngăn ngừa việc kết dính tạo cặn bẩn trong nước tiểu của bạn. Điều này giúp cho cơ thể không bị các căn bệnh sỏi thận hay viêm bàng quang.

Câu hỏi là UỐNG BAO NHIÊU NƯỚC MỖI NGÀY LÀ ĐỦ?

Nhu cầu lượng nước của mỗi người là khác nhau, phụ thuộc vào từng đối tượng và nhu cầu năng lượng của mỗi người hàng ngày.
Đối với người bình thường thì lượng nước cần uống vào theo lít bằng khoảng 3.26% trọng lượng cơ thể theo kg. Ví dụ, một người khoảng 50kg thì nên uống khoảng 1.5 lít nước mỗi ngày. Tuy nhiên, một số đối tượng có nhu cầu đặc biệt thì sẽ cần lượng nước cao hơn so với người bình thường. Ví dụ khi tập thể dục, lượng nước sẽ mất đi qua quá trình đổ mồ hôi. Vì vậy, các nhà khoa học khuyến cáo cứ mỗi tiếng thể thao, con người cần uống thêm khoảng 1 lít nước. Hay như phụ nữ có thai và cho con bú thì sẽ cần thêm từ 500 ml đến 1 lít so với người bình thường để cung cấp đủ nước cho cả mẹ và bé.

Vậy lượng nước chúng ta cần uống mỗi ngày phụ thuộc vào cân nặng, độ tuổi, giới tính, thể trạng, môi trường sống và mức độ hoạt động thể chất của mỗi người. Ví dụ như người cao to cần uống nhiều nước hơn người thấp bé, hay các vận động viên thể thao cần uống nhiều nước hơn người bình thường. Hoặc mùa hè mỗi người đổ mồ hôi nhiều nên cần uống nhiều nước hơn mùa đông.

Tuy vậy, điều gì sẽ xảy ra nếu UỐNG QUÁ NHIỀU NƯỚC TRONG MỘT KHOẢNG THỜI GIAN NGẮN?

Khi một người uống trên 1 lít nước mỗi giờ, nồng độ ion Na+ trong máu sẽ hạ xuống, dịch tế bào chuyển từ bên ngoài vào bên trong làm sưng tế bào, làm tăng áp lực lên sọ não, trong một số trường hợp có thể gây ra các tình trạng như đau đầu, buồn nôn. Các trường hợp nặng và đặc biệt hơn có thể tăng huyết áp, chóng mặt, thậm chí tử vong nếu không được điều trị kịp thời. Vì vậy các nhà khoa học khuyến cáo nên chia nhỏ lượng nước cần uống mỗi ngày thành các đợt, và mỗi đợt khoảng 1 đến 2 ly (200 đến 500 ml).

Cuối cùng, P.R.I.S.M mong rằng mỗi người sẽ đều uống lượng nước phù hợp với thể trạng với bản thân để có lợi cho sức khỏe nhé.

Nguồn:
https://karofivietnam.com.vn/uong-nuoc-nhieu-co-tac-dung…
https://youmed.vn/tin-tuc/loi-ich-cua-nuoc-doi-voi-suc-khoe/
https://dienmaysakura.vn/uong-du-2-lit-nuoc-moi-ngay.html
https://vndoc.com/cach-tinh-chuan-xac-luong-nuoc-can-uong…
https://buaanhoanhao.vn/ngo-doc-nuoc/
_______________
[SEASON 2 • ScientiFact #8] – IS TWO LITERS OF WATER A DAY ENOUGH?

When we were children, we were all advised to drink at least 2 liters of water every day, but IS THIS ADVICE COMPLETELY CORRECT?

Firstly, let’s talk about the benefits of drinking enough water.

Water helps the body to eliminate toxins. Toxic substances when eating and drinking daily will accumulate in the body. When drinking water in moderation, the water molecules go deep inside through the lipid membranes and remove the remaining toxins and then excrete them out. Moreover, they also combine with oxygen molecules, transporting the nutrients of the food are metabolized to nourish each cell, eliminating harmful free radicals.

Drinking water rehydrates the body. 70% of the human body is water, and if you lose 1-3% of your body weight due to dehydration, you will experience decreased concentration, memory loss, headaches and anxiety. Water is also usually lost through breathing, sweat or urine. Moreover, when exercising or when it is hot, the metabolism in the body is faster. At this time, it is necessary to replenish the lost water for the body.

Drinking enough water is also beneficial for the skin. Water will penetrate to each epidermis, making the skin taut. The cells under the skin that are supplied with enough water will be healthy, toxic substances will not stay, causing accumulation and clogging of pores. This makes the skin taut and healthy.

In addition, drinking water helps prevent constipation and improves digestion. If the body does not have enough water, the cells will absorb all the remaining water, causing the large intestine to dry out, the waste there will be frozen, there is no lubricant to push out, causing constipation. which is harmful for health.

Moreover, the benefits of drinking more water also help dilute salt and prevent build-up of deposits in your urine. That helps the body not to suffer from kidney stones or bladder infections.

The question is HOW MUCH WATER SHOULD BE DRUNK EACH DAY?

Each person’s water needs are different, depending on each object and each person’s daily energy needs.

For the average person, the amount of water to drink in liters is about 3.26% of body weight in kg. Thus, a person about 50 kg should drink about 1.63 liters of water per day. However, some subjects with special needs will need a higher amount of water than the average person. For instance, when exercising, water is lost through sweating. Scientists recommend that for every hour of sports, people need to drink 710 ml or 0.71 liters of water.Therefore, scientists recommend that for every hour of sports, people need to drink about 1 liter of water. Or pregnant and lactating women need more 500ml to 1l of water per day than normal people to provide enough water for both the mother and the baby.

So the amount of water we need to drink each day depends on weight, age, gender, physical condition, living environment and level of physical activity. For example, tall and fat people need to drink more water than short and thin people, or sports athletes need to drink more water than normal people. Or in the summer, people sweat a lot, so they need to drink more water than in the winter.

What will happen if a person DRINK TOO MUCH WATER IN A SHORT PERIOD OF TIME?

When a person drinks more than 1 liter of water per hour, the concentration of sodium ions in the person’s blood will drop, cell fluid moves from the outside to the inside, causing cell swelling, increasing pressure in the brain, in some cases causing conditions such as headaches and nausea. In more severe cases, people with water poisoning will increase blood pressure, dizziness, … even death if not treated promptly., so scientists recommend dividing the amount of water to drink each day into batches, and each session is about 1 to 2 glasses (200 to 500 ml).

Finally, P.R.I.S.M hopes that each person will drink the right amount of water for their body to benefit their health.
_______________
Mọi thông tin xin liên hệ – For all inquiries, please contact:
Đặng Minh Trung: +8494 190 1469 (Trưởng ban Tổ chức – Head of Project)
Trần Đình Phương Uyên: +8436 643 7691 (Trưởng ban Đối ngoại – Head of Public Relations)
Email: prismproject20@gmail.com
Website: https://prismproject20.com/
Facebook: https://www.facebook.com/prismproject20/

[SEASON 2 • ScientiFact #7] – BẺ KHỚP NGÓN TAY – NÊN HAY KHÔNG?

(English caption below)

Có khi nào bố mẹ bạn từng nói, “Con mà bẻ tay nhiều là ngón tay to ra đấy”? Một số người còn khẳng định: “ Bẻ tay nhiều dẫn tới viêm khớp!”. Vậy trong những câu nói đó có bao nhiêu phần là sự thật, và liệu việc bẻ khớp có thể gây hại đến mức nào? Hãy cùng P.R.I.S.M. tìm hiểu về bản chất của ‘thói quen’ này qua bài viết nhé!

Đa số chúng ta có thể bẻ các khớp ngón tay, cổ tay. Một số người khi ngồi trong một thời gian dài thậm chí lưng và cổ họ cũng có thể phát ra những tiếng kêu “răng rắc”. Vậy những tiếng kêu đó đến từ đâu? Các nhà khoa học giải thích rằng chất lỏng hoạt dịch có trong khớp của bạn sẽ hoạt động như một chất bôi trơn. Chất lỏng chứa các khí oxy, nitơ và carbon dioxide. Khi bẻ một khớp, bạn sẽ kéo căng bao khớp. Khí từ trong hoạt dịch được giải phóng nhanh chóng dưới dạng các bong bóng. Những bong bóng đó phát nổ giống như khi chúng ta thổi kẹo cao su, gây ra những tiếng kêu răng rắc. Tuy nhiên lượng khí đó không mất đi, mà sẽ dần dần được hấp thu trở lại hoạt dịch và thế là bạn lại có thể bẻ ngón tay một lần nữa. Thông thường, sẽ mất khoảng 15-20 phút để toàn bộ khí được hấp thu, và đó cũng thường là thời gian tối thiểu giữa hai lần bẻ ngón tay của bạn.

Vậy những âm thanh này và tiếng kêu “răng rắc” của khớp khi bạn đứng dậy nhanh có giống nhau không? Thực tế là không. Âm thanh khi bạn đứng bật dậy nhanh được tạo ra do sự co rút của gân khi nó chuyển động qua lại giữa các xương. Khi một khớp di chuyển, gân sẽ ngay lập tức co dãn theo và tạo ra tiếng “rắc”.

Có vẻ như dù muốn hay không, cố tình hay vô ý thì chúng ta vẫn thường khiến cho các đốt xương của chúng ta nổ bong bóng, nhưng đồng thời chúng ta đều phải thừa nhận bẻ khớp tạo cho ta một cảm giác khoan khoái. Vậy liệu bẻ khớp có phải một thói quen an toàn?

Một báo cáo khoa học chính thức vào năm 1990 in trên tạp chí Annals of the Rheumatic Diseases đã chỉ ra rằng việc bẻ ngón tay có thể làm các khớp to ra, đồng thời làm giảm lực nâng của bàn tay. Theo đó, 84% trong số 300 người bẻ khớp ngón tay thường xuyên bị sưng tay sau này, nhưng chỉ 6% người không bẻ khớp chịu chung số phận. Mặc dù các nhà khoa học vẫn chưa giải thích được hiện tượng này, nhưng rất có thể tình trạng viêm đóng một vai trò trong đó. Tiến sĩ Devgan nói: “Bẻ khớp ngón tay làm tăng thêm sự hao mòn cơ học cũng như gây ra tình trạng viêm nhiễm ở các khớp.” Tuy nhiên, ông cũng nói thêm: “Đối với hầu hết những người bẻ khớp ngón tay trung bình, điều này có lẽ sẽ không dẫn đến sự khác biệt có ý nghĩa rõ ràng, nhưng chấn thương do lạm dụng là có thật và phương pháp này không được khuyến khích.”

Song, nhà khoa học Mỹ Donald Unger đã dành ra 60 năm chỉ bẻ ngón tay của một bên bàn tay. Kết quả cho thấy cả hai bàn tay của ông đều không có biểu hiện của sự thoái hóa khớp hay bất cứ triệu chứng nào của bệnh viêm khớp. Năm 2009, phát hiện này đã giúp ông thăng giải IgNobel – một giải Nobel không chính thức dành cho những phát hiện khoa học thú vị không chuyên ngành.

Như vậy, có lẽ nếu bạn không phải là một người “nghiện” bẻ khớp ngón tay, những tác hại duy nhất của hành động này chỉ dừng lại ở việc làm phiền mọi người xung quanh mà thôi.

_______________

[SEASON 2 • ScientiFact #7] – KNUCKLES CRACKING – SHOULD OR SHOULDN’T ?

Have your parents ever said, “If you crack your knuckles a lot, your fingers will get bigger”? Some people even assert: “Cracking your knuckles a lot leads to arthritis!”. So how much truthful are these sayings, and how much harmful can cracking joints be? Let’s find out the truth of the matter with P.R.I.S.M. through this article!

Most of us can crack our knuckles and wrists. Some people, when sitting for a long time, even their backs and necks can make “cracking” noises. So where do those cracks come from? Scientists explain that the synovial fluid present in your joints acts as a lubricant. The liquid contains the gases oxygen, nitrogen and carbon dioxide. When you crack a joint, you stretch the capsule. Gas from the synovial fluid is rapidly released in the form of bubbles. Those bubbles explode like when we blow gum, causing a cracking sound. However, that gas is not lost, but will gradually be reabsorbed back into the synovial fluid and so you can crack your knuckles again. Usually, it will take about 15-20 minutes for all of the gas to be absorbed, and that’s also usually the minimum time between two times you crack the knuckles.

So, are these sounds and the “cracking” sound of your joints when you stand up quickly the same? Reality is not. The sound when you get up quickly is made by the contraction of the tendon as it moves back and forth between the bones. When a joint moves, the tendon will immediately stretch and make a “crack” sound.

It seems that whether we like it or not, accidentally or intentionally, we often cause burning our bones bursting bubbles, but at the same time we have to admit that cracking our joints gives us a sense of relax. So is cracking joints a safe habit?

An official scientific report in 1990 published in the journal Annals of the Rheumatic Diseases showed that cracking the knuckles can enlarge the joints and reduce the lifting force of the hand. Accordingly, 84% of 300 knuckle crackers experienced frequent hand swelling later in life, but only 6% of non-cracked people suffered the same fate. While scientists have yet to explain this phenomenon, it’s possible that inflammation plays a role. Dr Devgan said: ‘Cracking the knuckles adds to the mechanical wear and tear that causes inflammation in the joints’. However, he also added: “For most average knuckle crackers, this probably won’t result in a clearly meaningful difference, but trauma due to abusing is real and this method really is not encouraged .”

However, American scientist Donald Unger spent 60 years only cracking the knuckles of one hand. The results showed that both his hands showed no signs of osteoarthritis or any symptoms of arthritis. In 2009, this discovery won him the IgNobel prize – an unofficial Nobel prize for interesting non-specialist scientific discoveries.

So maybe if you’re not a knuckle-cracking addict, the only damage of this action will be annoying everyone around you.

_______________

Mọi thông tin xin liên hệ – For all inquiries, please contact:

Đặng Minh Trung: +8494 190 1469 (Trưởng ban Tổ chức – Head of Project)

Trần Đình Phương Uyên: +8436 643 7691 (Trưởng ban Đối ngoại – Head of Public Relations)

Email: prismproject20@gmail.com

Website: https://prismproject20.com/

[SEASON 2 • SCIENTIFACT #6] – QUY TẮC 5 GIÂY

(English caption below)

Khi chúng ta còn bé, ta luôn cảm thấy sung sướng mỗi khi được người lớn cho quà vặt. Những món bim bim với đủ loại màu sắc và hương vị là những món quà thật tuyệt vời sau mỗi buổi chiều tan học. Khi ta ăn bim bim, cũng chẳng thế nào tránh được đôi lúc hậu đậu, làm rơi miếng bim bim xuống nền nhà. Và khi đó, ta lại băn khoăn có nên tiết kiệm và nhặt lên ăn tiếp không, hay sẽ bỏ nó vào thùng rác. Ta chạy ra hỏi người lớn, và nhận được câu trả lời về một thứ “định luật” như này:

“Nếu thức ăn bị rớt xuống đất, bạn vẫn có thể ăn nó một cách ăn toàn miễn là nhặt nó lên trong vòng 5 giây”.

Và ta có thể diễn đạt lại “Quy tắc 5 giây” này một cách “khoa học” hơn như sau:

“Thức ăn rớt trên mặt đất chưa đầy 5 giây thì không đủ thời gian để vi sinh vật ở trên bề mặt làm rơi bám vào thức ăn gây bẩn.”

Điều này có nghĩa là những miếng bim bim kia của bạn hoàn toàn có thể ăn được nếu nhặt lên trong vòng 5 giây thay vì phải bỏ vào thùng rác.

Vậy liệu suy nghĩ này có thực sự đúng đắn?

Trước hết, khi thức ăn chạm đất, chắc chắn đã có sự tiếp xúc giữa các vi sinh vật trên với bề mặt thức ăn. Mặc dù vậy, bằng mắt thường thi khó lòng có thể nhận biết sự khác biệt về số lượng vi khuẩn trên miếng thức ăn sạch và miếng thức ăn bị rơi.  Và đây là lúc các chuyên gia vào cuộc.

Câu hỏi này đã từng được đưa lên chương trình TV Mythbusters của Discovery Channel. Họ làm thí nghiệm bằng cách đặt một số mẫu đồ ăn khác nhau lên trên cùng một số bề mặt trong thời gian 2s, 6s. Và kết quả cho thấy mẫu đồ ăn đặt trên bề mặt bẩn sau 2s đã bị nhiễm khuẩn, và lượng nhiễm khuẩn không khác nhiều so với việc đặt nó trong 6s. Điều này chứng tỏ rằng “5 giây”  không phải một con số định lượng chính xác và thời gian không phải yếu tố quyết định cho việc nhiễm khuẩn.

Paul Dawson, giáo sư thực phẩm tại Đại học Clemson (Mỹ) đã nhiều năm nghiên cứu về “quy luật 5 giây”. Trong nghiên cứu được đăng trên tờ Journal of Applied Microbiology, ông nhận định điều quan trọng là độ sạch của nền nhà chứ không phải thức ăn đã nằm đó bao lâu. Thí nghiệm với bánh mì và mì, giáo sư phát hiện nền đất ẩm khiến thức ăn bị nhiễm 70% vi khuẩn trong khi tỷ lệ này ở nền gạch khô chỉ 1%. Một nghiên cứu tương tự từ Đại học Aston (Anh) chỉ ra thức ăn sẽ bị vi khuẩn tấn công ngay khi chạm xuống bề mặt sàn, số lượng vi khuẩn sẽ tăng gấp 10 lần nếu sàn ẩm.

Một số nghiên cứu khoa học sâu hơn cũng cho thấy độ nhiễm khuẩn của thức ăn rớt xuống đất phụ thuộc vào các yếu tố như độ ẩm của thức ăn, bề mặt tiếp xúc và thời gian tiếp xúc.

Trên thực tế, thức ăn có độ ẩm cao sẽ dễ bị nhiễm khuẩn hơn. Ví dụ một miếng dưa hấu sẽ bị nhiễm khuẩn nhiều hơn  một miếng bánh quy do nó có độ ẩm cao hơn.

Bên cạnh đó, trong thí nghiệm thực hiện tại Đại học Clemson, các mẫu thử được đặt trên các bề mặt của sàn gạch, thảm và sàn gỗ được cho vào cùng 1 lượng khuẩn salmonella. Kết quả cho thấy mẫu thử trên thảm chứa ít vi khuẩn nhất, dù cho có để ở đó trong thời gian dài hơn là tại 2 vị trí còn lại. Điều đó đã chứng minh cho sự khác biệt về khả năng lan truyền vi khuẩn giữa các bề mặt khác nhau với thức ăn.

Về thời gian, tốc độ xâm nhập của các loại vi khuẩn khác nhau cũng rất khác nhau. Ở tốc độ nhanh nhất, một số loại vi khuẩn có thể xâm nhập vào thức ăn trong chưa đấy 1 giây.

Mặt khác, giả sử như “quy luật 5 giây” là hợp lý, khi đánh rớt thức ăn, phản ứng của chúng ta cũng mang tính tương đối. Ví dụ như khi rớt thức ăn lên bàn hay lên nền nhà, ta sẽ có cảm giác “yên tâm” hơn khi đánh rơi thực phẩm lên vỉa hè. 

Cũng có “Giả thiết vệ sinh” (Hygiene hypothesis) cho rằng trẻ em nếu tiếp xúc với một số loài vi sinh vật cụ thể nào đó sẽ giúp làm giảm nguy cơ mắc các bệnh dị ứng bằng cách tăng cường hệ thống miễn dịch. Đặc biệt, thiếu tiếp xúc còn được cho là có khả năng dẫn tới những khiếm khuyết của khả năng miễn dịch, dẫn tới gây ra các bệnh tự miễn (các bệnh xảy ra do bộ máy miễn dịch mất đi khả năng phân biệt các kháng nguyên bên ngoài và tự kháng nguyên). Những nghiên cứu ủng hộ giả thuyết này cho rằng các bệnh tự miễn xảy ra phổ biến hơn ở các nước phát triên, nơi sự phổ biến của thuốc kháng sinh và kháng khuẩn làm giảm sự tiếp xúc của trẻ nhỏ với vi khuẩn. Do đó việc ăn lại đồ ăn rớt xuống nền nhà cũng không hoàn toàn là xấu nếu như việc này không xảy ra thường xuyên.

Nguồn:

[1] https://kidshealth.org/en/kids/5-seconds.html

[2] Helen Thompson. (March 2012).  https://www.nature.com/news/early-exposure-to-germs-has-lasting-benefits-1.10294

[3] Leanna Skarnulis. https://www.webmd.com/a-to-z-guides/features/5-second-rule-rules-sometimes-

[4]Sara Lindberg. (November 2019). https://www.healthline.com/health/5-second-rule

_______________

[SEASON 2 • SCIENTIFACT # 7] – 5 SECONDS RULE

When we were children, we always felt happy when we were given snacks by adults. The snacks of all kinds of colors and flavors are great gifts after each afternoon of school. When we eat a snack, there’s no way to avoid being clumsy sometimes, dropping the cookie on the floor. And then, again, we wonder whether to save and pick up again to eat or will put it in the trash. I ran to ask the adults, and got an answer about something like this “law”:

“If the food falls to the ground, you can still eat it completely as long as you pick it up within 5 seconds.”

And we can reinterpret this “Rule of 5 seconds” in a more “scientific” way as follows:

“Food dropped on the ground less than 5 seconds, there is not enough time for microorganisms on the surface to fall onto the dirty food”

This means that your other snacks are completely edible if picked up within 5 seconds instead of having to be in the trash.

So is this thinking correct?

First of all, when food touches the ground, there is certainly contact between the microorganisms and the food surface. However, with the naked eye, it is difficult to tell the difference in the bacteria count on a clean piece of food and a drop of food. And this is where the experts come in.

This question was featured on Discovery Channel’s TV Mythbusters. They experimented by placing several different food samples on the same surface for 2 seconds, 6s. And the results showed that the food sample placed on the dirty surface after 2 seconds was contaminated, and the amount of infection was not much different from placing it in 6s. This proves that “5 seconds” is not an accurate quantitative number and time is not the decisive factor for infection.

Paul Dawson, professor of food at Clemson University (USA) has for many years researched the “law of 5 seconds”. In a study published in the Journal of Applied Microbiology, he states that the cleanliness of the floor, not how long food stays there. Experimenting with bread and pasta, the professor found that damp soil caused 70% of bacteria to be contaminated with food, while this ratio in dry brick was only 1%. A similar study from Aston University (UK) shows that food will be attacked by bacteria as soon as it touches the floor, the number of bacteria will increase 10 times if the floor is wet.

Some further scientific studies have also shown that the contamination of food that falls to the ground depends on factors such as the moisture content of the food, the surface of the contact, and the contact time.

Foods with high humidity are more susceptible to infection. For example, a piece of watermelon will be more contaminated with bacteria than a cookie because it has a higher moisture content.

Also, in the experiment carried out at Clemson University, the samples were placed on the surfaces of tile, carpet, and laminate floors were added to the same amount of salmonella. The results showed that the sample on the carpet contained the least amount of bacteria, even if it was left there for a longer time than at the other two locations. That proves the difference in the ability of bacteria to spread between different surfaces and food.

In terms of time, the penetration rate of different bacteria is also very different. At the fastest speed, some bacteria can get into food in less than a second.

On the other hand, assuming the “5-second rule” is reasonable, when we drop food, our reaction is also relative. For example, when dropping food on the table or the floor, we will feel “reassured” when dropping food on the sidewalk.

There is also a “Hygiene hypothesis” that states that children exposed to certain species of microorganisms help reduce the risk of allergic diseases by strengthening the immune system. In particular, lack of exposure is thought to have the potential to lead to immunity deficiencies, leading to autoimmune diseases (diseases caused by the loss of the immune system’s ability to distinguish resistance from external and self-antigens). Studies support this hypothesis that autoimmune diseases are more common in developed countries, where the prevalence of antibiotics and antibacterial agents reduces the child’s exposure to bacteria. Therefore, re-eating food that falls on the floor is not completely bad if it does not happen often.

Works Cited:

[1] https://kidshealth.org/en/kids/5-seconds.html

[2] Helen Thompson. (March 2012).  https://www.nature.com/news/early-exposure-to-germs-has-lasting-benefits-1.10294

[3] Leanna Skarnulis. https://www.webmd.com/a-to-z-guides/features/5-second-rule-rules-sometimes-

[4] Sara Lindberg. (November 2019). https://www.healthline.com/health/5-second-rule

_______________

Mọi thông tin xin liên hệ – For all inquiries, please contact:

Đặng Minh Trung: +8494 190 1469 (Trưởng ban Tổ chức – Head of Project)

Trần Đình Phương Uyên: +8436 643 7691 (Trưởng ban Đối ngoại – Head of Public Relations)

Email: prismproject20@gmail.com

Website: https://prismproject20.com/

[SCIENTIFACT #2]

ENGLISH

NHIỄU ĐỘNG TRỜI TRONG

Một trong những nỗi sợ phổ biến với chúng ta khi đi máy bay, ngoài ghế ngồi chật chội và tiếng động cơ ồn ào chói tao, còn có những sự rung lắc ngắt quãng trong suốt chuyến bay nữa. Với những ai đã từng bay, chắc hẳn mọi người đều từng rơi vào cảnh, khi đang tận hưởng chuyến bay yên bình, khi trời bên ngoài cửa sổ không chút gợn mây, thì máy bay đột ngột rung dữ dội, cốc nước trên bàn phía trước nghiêng ngả như sắp rơi, còn trẻ con bắt đầu khóc lóc, và tiếp viên phải kêu gọi hành khách thắt dây an toàn, vì máy bay “đang bay vào vùng thời tiết xấu.” Thật lạ kỳ! Trời quang mây tạnh là vậy, lại còn hửng nắng thế kia, vì sao máy bay lại đột ngột rung chuyển thật dữ dội quá! Phải chăng động cơ máy bay hỏng? Hay máy bay hết nhiên liệu rồi? Trong những giây phút thót tim ấy, không ít người cảm tưởng rằng dường như tình huống xấu nhất sắp xảy đến với chuyến bay của mình! Nhưng chớ có lo lắng quá! Hiện tượng “thót tim” ấy thực chất là sự nhiễu động trời trong, một hiện tượng khí tượng thường gặp ở dường như bất kỳ chuyến bay nào, và máy bay thương mại hiện đại luôn có khả năng chống chọi với chúng.

  1. Nhiễu động trời trong là gì?

Nhiễu động trời trong (tiếng Anh là “Clear Air Turbulence”) là sự nhiễu loạn bất thường của các khối khí, khi không có sự hiện diện của các bằng chứng có thể thấy bằng mắt thường (như các khối mây). Hiện tượng này là sự chênh lệch đột ngột của vận tốc các khối khí khác nhau, ở tầng đối lưu của bầu khí quyển, thường xảy ra ở độ cao từ 7000m tới 12000m so với mực nước biển. Sự nhiễu động này thường được chia thành hai dạng: Nhiễu động cơ học (“Mechanical Turbulence”) và nhiễu động nhiệt học (“Thermal Turbulence”). Nói đơn giản, nhiễu động cơ học nhắc tới sự ngắt đoạn của dòng khí ngang, còn nhiễu động nhiệt học được mang lại bởi điều kiện bầu khí quyển không ổn định. Ví dụ điển hình nhất cho nhiễu động cơ học là sự cản trở của các vùng địa hình cao như dãy núi, còn với nhiễu động nhiệt học, chúng thường xảy ra vào những thời điểm nắng nóng, khi các luồng khí nóng đối lưu từ mặt đất bị cô lập trong một khoảng không tương đối nhỏ. 

  1. Nhiễu động trời trong được hình thành như thế nào?

Dù khoa học chưa thể khám phá hết được, nhưng phần lớn nhiễu động trời trong xảy ra do một hoặc sự kết hợp của ba yếu tố sau đây. Lý do điển hình nhất là các dòng chảy khí quyển hẹp, hay dòng tia (“Jet stream”) – các dòng khí hẹp, có vận tốc khá lớn, có thể đạt tới hơn 300 km/h. Các dòng tia xuất hiện chủ yếu ở biên giới giữa hai khối khí có sự chênh lệch nhiệt độ lớn (ví dụ, giữa khối khí nhiệt đới và khối khí lạnh vùng cực). Nguyên lý xuất hiện của dòng tia dựa vào sự gradien nhiệt độ và áp suất giữa hai khối khí, và khi những sự chênh lệch ấy đủ đáng kể, một khoảng không khí hỗn loạn sẽ được hình thành ở giữa nơi chuyển giao hai luồng khí – ở khoảng không khí hẹp đó sẽ xuất hiện gió mạnh, không ổn định, tạo sự nhiễu loạn lên máy bay khi di chuyển qua vùng này. Đặc biệt, ở vùng dòng tia này còn có sự hiện diện của hiện tượng gió đứt (“Wind Shear”), nơi mà sự nhiễu động xảy ra với tần suất và mức độ cao, gây ảnh hưởng không nhỏ tới chuyến bay. 

Lý do tiếp theo dẫn đến sự nhiễu loạn trong chuyến bay là do khu vực địa hình bạn bay qua. Thông thường, những vùng núi cao hoặc những thành phố có nhiều nhà chọc trời sẽ làm gián đoạn nhiều nhất luồng khí di chuyển ngang, gây sự bất ổn định trong đường bay, kể cả khi không có thời tiết xấu. Ví dụ, giả sử bạn đang trên chuyến bay tới Ý, thì khi bay qua khu vực dãy Alps, bạn sẽ cảm nhận sự rung lắc đáng kể trong chuyến bay của mình. 

Lý do thứ ba dẫn tới sự nhiễu động khi bay, và dường như cũng là lý do dễ hiểu nhất, là vì máy bay của bạn đang tiến gần tới các khu vực thời tiết cực đoan. Những đám mây vũ tích mang năng lượng và dòng điện rất lớn, có sức ảnh hưởng và khả năng gây nhiễu động không khí lan xa hơn rất nhiều so với thể tích của chúng. Chính vì vậy, kể cả khi máy bay còn cách vùng mây vũ tích tới gần 40km, nơi tưởng chừng như vẫn quang mây, các luồng không khí đã có thể bị gián đoạn phần nào, gây nên hiện tượng rung lắc mạnh mẽ trong khoang máy bay.

  1. Làm thế nào để phi hành đoàn đối phó với những tình huống rung lắc, nhiễu loạn?

Mặc dù trải nghiệm khi bay qua sự nhiễu động trời trong khá đáng sợ, và khiến con người ta lo lắng cho sự an toàn của mình, nhưng thực tế, những sự nhiễu động ngắt đoạn ấy là vô cùng phổ biến. Với sự đa dạng của đới khí hậu và thời tiết trên thế giới, việc bay qua các khối khí khác nhau, với chênh lệch nhiệt độ cao không phải là hiện tượng hiếm gặp. Đối với phi công, nhiễu động khi bay chỉ đơn giản là một sự phiền phức nhỏ trong công việc, và họ luôn có đủ kĩ năng để đưa máy bay ra khỏi vùng chịu ảnh hưởng. Thông thường, máy bay sẽ được giảm tốc để kiểm soát tốc độ dễ hơn; trong một số trường hợp khác, máy bay có thể sẽ được Trạm điều khiển không lưu cho phép thay đổi độ cao, tới mức an toàn, nơi không khí ổn định hơn. Phi công thậm chí có thể chọn bay thẳng vào vùng gây nhiễu động với tốc độ chậm, tuy cách làm này đặt áp lực lên cánh máy bay nhiều hơn đáng kể. Nhưng bất kể cách đối phó, nguyên lý giải quyết chung khi gặp nhiễu động không khí, đơn giản hơn hết, là tiếp tục bay, và chờ nó trôi qua mà thôi! 

  1. Đâu là giới hạn sức gió và thời tiết mà máy bay có thể chịu đựng?

Đừng quá lo lắng! Máy bay thương mại hiện đại ngày nay được lắp ráp, chế tạo với những công nghệ tiên tiến nhất, đủ vững chắc để bay qua những vùng thời tiết khó khăn bậc nhất. Đơn cử như sự cải tiến trong sức bền cánh máy bay; giờ đây, chúng được cấu tạo từ hợp kim nhôm, và phải trải qua công đoạn lắp ráp tỉ mỉ tới từng chiếc đinh tán, để đảm bảo đạt tiêu chuẩn ngành hàng không vũ trụ. Để kiểm chứng độ bền của cánh máy bay, trước khi đưa vào hoạt động, cánh máy bay thường được kiểm tra dưới sự mô phỏng gió bão và thời tiết xấu, và ở điều kiện tệ nhất, chúng có thể bị bẻ cong tới góc 90 độ mà không gãy! Thực tế, với sự phổ cập của các dòng máy bay hiện đại hơn bao giờ hết, như Boeing 787 Dreamliner, Airbus A350-1000, v.v, nhiễu động nói chung, và nhiễu động trời trong nói riêng, không còn là lý do của các vụ tai nạn thương tâm trong 4 thập kỷ trở lại đây, đánh dấu bước tiến bộ vượt bậc trong việc đảm bảo an toàn bay cho ngành hàng không hiện đại.

Vậy sau này, nếu chẳng may cốc nước trên bàn của bạn bắt đầu rung lắc, và chẳng may chuyến bay có trở nên xóc hơn ban đầu, hãy đừng vội cảm thấy lo lắng hay quá sợ hãi, vì bạn đã hiểu rằng hiện tượng nhiễu loạn ấy hoàn toàn có căn cứ khoa học, chóng đến, nhưng cũng chóng đi. Thay vào đó, hãy thật bình tĩnh, và nghĩ đến tương lai rằng sau chuyến bay này, bạn sẽ được đặt chân tới vùng đất mình mơ ước!

* Nguồn: 

[1] Anonymous. (March 2019). SKYbrary Wiki. Clear Air Turbulence (CAT) – SKYbrary Aviation Safety. Lấy từ https://www.skybrary.aero/index.php/Clear_Air_Turbulence_(CAT) 

[2] Anonymous. (n.d). Turbulence. Lấy từ  https://www.weather.gov/source/zhu/ZHU_Training_Page/turbulence_stuff/turbulence/turbulence.htm  

[3] Page, C. (October 2019). The Points Guy. How pilots keep you safe while flying through strong winds. Lấy từ  https://thepointsguy.com/guide/how-pilots-fly-through-wind/[4] Limer, E. (November 2017). Popular Mechanics. Watch These 7 Airplane Wings Pushed to the Brink and Beyond. Lấy từ https://www.popularmechanics.com/flight/g2428/7-airplane-wing-stress-tests/

CLEAR AIR TURBULENCE

One of the common fears for us when traveling by plane, besides the cramped seats and the loud engine noise, is that there are occasional shakes during the flight. For those who have flown, most of them surely have been in those scenes when you were enjoying a peaceful flight in a cloudless blue sky then suddenly, the plane vibrated fiercely: the glass of water on the table in front of you tilted as if it was about to fall, and the children began to cry, and the flight attendants had to tell passengers to wear their seat belts, as the plane was flying into an area with bad weather. How strange! The sky was clear and cloudless, and it was still sunny, how come the plane suddenly shook so violently! Was the aircraft’s engine broken? Or had the plane run out of fuel? In those heart-stopping moments, many people felt that the worst situation seemed to be coming to their flight! But don’t worry too much! The heart-wrenching phenomenon was Clear Air Turbulence, a meteorological phenomenon commonly seen in almost any flight, and modern commercial aircraft are always able to withstand them.

  1. What is Clear Air Turbulence?

Clear air turbulence is abnormal turbulence of air masses in the absence of visible evidence (like clouds). This phenomenon is the abrupt difference in the velocity of different air masses in the troposphere, usually occurring at an altitude of 7000m to 12000m above sea level. There are usually two types of clear air turbulence: Mechanical Turbulence and Thermal Turbulence. Simply put, mechanical turbulence refers to the disruption of horizontal airflow, while thermal turbulence is brought about by unstable atmospheric conditions. The most typical example of mechanical turbulence is the obstruction of high terrain areas such as mountains. Thermal turbulence often occurs in hot weather when hot air convection flowing from the ground is isolated in a relatively small headroom.

  1. How is Clear Air Turbulence formed ?

Although science has not been able to fully discover it, most of the clear air turbulence in the sky occurs due to one or a combination of the following three factors. The most typical reason is the narrow atmospheric stream, or “jet stream” – the narrow stream of air with relatively large velocity, which can reach more than 300 km/h. Jet streams occur primarily on the boundary between two air masses with large temperature differences (for example, between tropical and polar air mass). The principle of the jet stream is based on the gradient of temperature and pressure between the two air masses, and when the differences are significant enough, a turbulent air will be formed in a narrow place between the two air masses, where the strong and unstable wind appears, creating turbulence in the plane traveling through this area. What is more, a phenomenon called Wind Shear happens in regions with Jet Stream, more specifically where the disturbance with frequency and high degree, causing significant impact on the flight.

The next reason for the turbulence in the flight is due to the terrain the plane flies over. Usually, high mountains or cities with many skyscrapers will interrupt the flow of air at most, causing instability in the flight route, even when there is no bad weather. For example, suppose you are on a flight to Italy, then when flying over the Alps, you will feel a significant vibration during your flight.

The third reason for this turbulence, and apparently the most obvious, is because your aircraft is approaching extreme weather areas. Cumulonimbus clouds carry enormous energy and currents, which are influential and capable of causing air turbulence to spread far beyond their volume. Therefore, even when the aircraft is about 40 km away from the cumulonimbus clouds, where the sky seems cloudless, the airflow might have been partially interrupted, causing the plane’s cabin to shake fiercely.

  1. How does the flight crew deal with shaking and turbulent situations?

Although the experience of flying with clear air turbulence is quite frightening and makes people worry about their safety; in reality, such intermittent turbulence is extremely common. Due to the diversity of climates and weather in the world, flying through different air masses with high temperature difference is not rare. For pilots, flight turbulence is simply a minor hassle at work, and they always have the skills to get the plane out of the affected area. Usually, aircraft will be decelerated to control the speed easier; in other cases, the aircraft may be allowed by the Air Traffic Control Station to change altitude: to a safer level where the air is more stable. Pilots can even choose to fly straight into the turbulent area at low speeds, though this puts a lot more pressure on the wings. But regardless of how to deal with it, the general and also the most simple principle of dealing with air turbulence is to keep flying, and wait for it to pass!

  1. What is the wind and weather limit that the aircraft can withstand?

Don’t worry! Modern commercial airplanes today are assembled and built with the most advanced technology,  which means that they are strong enough to fly through the most extreme weather areas. The improvement in aircraft wing durability is an example of this. These days, they are made from aluminum alloy and must go through meticulous assemblies that perfect the tiniest detail to meet the standards of the aerospace industry. To verify the durability of the wings, they are often tested under the simulations of storms and bad weather before being put into operation. Even in the worst conditions, they can be bent to an angle of 90 degrees without breaking! In fact, as modern aircraft have become more common than ever (Boeing 787 Dreamliner, Airbus A350-1000, etc.), turbulence or clear air turbulence, in particular, are no longer the cause of tragic accidents in the last 4 decades, marking a significant step forward in ensuring flight safety for modern aviation.

So later on, if unfortunately the glass of water on your table starts to shake, and unfortunately the flight has become less peaceful than it initially is, do not rush to feel nervous or frightened. Why? It’s because you already understand that the turbulence is completely scientifically based: quickly come, but also quickly leave. Instead, be calm, and think about the future that after this flight, you will be able to set foot in the land of your dreams!

* Citation: 

[1] Anonymous. (March 2019). SKYbrary Wiki. Clear Air Turbulence (CAT) – SKYbrary Aviation Safety. Retrieved from https://www.skybrary.aero/index.php/Clear_Air_Turbulence_(CAT) 

[2] Anonymous. (n.d). Turbulence. Retrieved from  https://www.weather.gov/source/zhu/ZHU_Training_Page/turbulence_stuff/turbulence/turbulence.htm  

[3] Page, C. (October 2019). The Points Guy. How pilots keep you safe while flying through strong winds. Retrieved from  https://thepointsguy.com/guide/how-pilots-fly-through-wind/[4] Limer, E. (November 2017). Popular Mechanics. Watch These 7 Airplane Wings Pushed to the Brink and Beyond. Retrieved from https://www.popularmechanics.com/flight/g2428/7-airplane-wing-stress-tests/

[ScientiFact #0]

English

Fact-checking là gì? Tại sao cần fact-checking? Fact-checking như thế nào?

Khi theo dõi thông tin, chắc hẳn nhiều người đã nghe qua một từ tiếng Anh hay được nhắc đến: “fact-checking”. Để biết thêm về fact-check, hãy cùng theo dõi bài viết này để tìm hiểu định nghĩa, mục đích, và cách áp dụng kỹ năng này trong cuộc sống để xử lý thông tin. Đây là một quá trình nghe chừng không liên quan đến khoa học, nhưng thực chất lại là cốt lõi trong việc đặt nền móng cho lĩnh vực này.

1. Fact-checking là gì?

Fact-check có thể gọi là “kiểm chứng thông tin” theo định nghĩa tiếng Việt. Đây là một phương pháp để kiểm tra tính chính xác và rõ ràng của của tin tức, nguồn tin, và mối liên hệ giữa các thông tin. Fact-checking gồm hai quá trình: ante hoc (cụm từ gốc Latin mang nghĩa “trước đó”), quá trình kiểm chứng trước khi cung cấp thông tin; và post hoc (cụm từ gốc Latin mang nghĩa “sau đó”), quá trình kiểm chứng khi tiếp nhận thông tin đã được đưa ra. Đúng như câu thành ngữ “uốn lưỡi bảy lần trước khi nói,” quá trình ante hoc là tương đương với việc suy nghĩ kĩ càng, thấu đáo trước khi lên tiếng, thường được sử dụng bởi các cá nhân, tổ chức và đơn vị truyền thông có uy tín. Mặc dù vậy, bài viết này muốn hướng đến quá trình post hoc, quá trình chọn lọc thông tin và chống lại các thông tin, quan niệm không đúng. Ngoài các đơn vị, tổ chức sử dụng post hoc, mỗi chúng ta nên tự biết cách sử dụng phương pháp này thường xuyên.

2. Tại sao cần fact-checking?

Vậy tại sao phải factcheck? Trớ trêu thay, khoa học công nghệ phát triển lại khiến cho các tin giả, tin chưa được xác thực gia tăng nhanh chóng và càng có thêm các kênh truyền thông để có thể lan truyền các tin tức đó. Ngoài sự nỗ lực kiểm duyệt thông tin từ chính phủ và các đơn vị truyền thông đáng tin cậy, vẫn có lượng không nhỏ thông tin sai lệch lọt qua hặc tiếp cận người đọc trước khi bị bác bỏ. Khi tiếp nhận các thông tin không chính xác, những người đọc sẽ gặp phải những thay đổi về tư tưởng, tâm lý, có những suy nghĩ cực đoan và mất đi sự tin tưởng của những người xung quanh. Hoặc thậm chí tệ hơn, các cá nhân như vậy có thể bị chi phối bởi nguồn tin và bị lừa, dẫn đến thiệt hại về tài chính hay tinh thần. Để tránh rơi vào các tình thế trên, cần phải bình tĩnh xử lý thông tin, tiếp nhận các thông tin thật và phủ nhận các thông tin khác.

3. Fact-checking như thế nào?

Có ba bước khi fact-check:

– Bước 1: Kiểm tra nguồn tin

Đây là một bước thường gặp trong kiểm chứng thông tin. Người xưa cho rằng “nói có sách, mách có chứng” quả là không sai. Khi tiếp nhận thông tin, mỗi người cần tự dò lại gốc rễ thông tin đó. Nếu tin đó là lời khẳng định đến từ một nơi uy tín, ví dụ như kênh Thời sự quốc gia, bước này tạm thời được bỏ qua; ngược lại, ví dụ như bài đăng nhằm gây sự chú ý, tin đó là sai. Với các giả thuyết và lời đồn, những thứ chưa chắc đúng hay sai, tiếp tục với bước sau. Còn với các thông tin không thể truy ra được nguồn gốc, tạm thời không quan tâm nhưng không dán nhãn mác “đúng” hay “sai” và chờ có thêm thông tin để xác thực. 

– Bước 2: Đối chứng giữa các nguồn tin                         

Việc tiếp theo cần làm là tìm thông tin đó trên các kênh thông tin đáng tin cậy khác và so sánh tin này giữa các trang thông tin khác nhau. Nếu như có sự tương đồng gần như tuyệt đối thì chỉ còn việc kiểm tra lại sự sai lệch để kết thúc bước này. Đến đây, các tin là khẳng định sẽ là tin thật, nhưng với các giả thuyết và lời đồn, cần thêm bước nữa. Còn khi xuất hiện các chi tiết sai lệch rõ ràng, cần phải kiểm tra rộng hơn. Đôi khi đó là lỗi sơ suất của một nguồn tin, nhưng với các sự sai lệch có chủ đích, sẽ phải thực hiện bước cuối cùng.

– Bước 3: Kiểm tra dẫn chứng, 

Đây là bước ít ai làm, nhưng lại là quan trọng trong việc hiểu rõ thông tin gây tranh cãi và giả thuyết, lời đồn. Tại bước này, cần xem lại các chứng cứ đưa ra để ủng hộ hay phủ nhận ý kiến này. Cũng giống như các bước trên, cần làm lại quá trình rà soát lại từng dẫn chứng như đã làm với thông tin và chỉ sau khi có được tổng quan về các ý kiến hai bên mới đi đến quyết định cuối cùng về việc ủng hộ bên nào. Mỗi người đều có quan điểm khác nhau, nên khi truyền lại thông tin, không nên đưa ra quan điểm chủ quan mà giữ trung lập và chỉ cung cấp ý kiến cá nhân khi được hỏi. 

4. Một số nguồn tin uy tín

– Tại Việt Nam:

Các kênh tin tức truyền hình quốc gia và địa phương (ví dụ: VTV1), các tờ báo lớn, danh tiếng (ví dụ: Báo Dân trí), các cơ quan Nhà nước, các viện Nghiên cứu lớn.

– Tại quốc tế:

Các kênh tin tức truyền hình và báo chí lớn (ví dụ: CNN, The New York Times), các kênh tin tức khoa học (ví dụ: Nature), các viện Nghiên cứu lớn, các đại học lớn.

What is Fact-checking? Why do we need fact-checking? How to fact-check?

While following the news, many people may have probably heard the word: “fact-checking”. Those who wish to learn more about fact-check can follow this article to learn the definition, purpose, and apply this skill in real life to information processing. This is a seemingly unrelated process to science, but it is at the core of laying the foundations for this area.

1. What is Fact-checking?

Fact-check can be called “information verification” under the Vietnamese definition. This is a method to check the accuracy and clarity of news, sources, and relationships between information. Fact-checking consists of two processes: ante hoc (the Latin phrase meaning “before”), the verification process before providing information; and post hoc (the Latin phrase meaning “later”), the verification process of the information given. Just like the proverb “Words must be weighed, not counted,” the process of ante hoc is equivalent to being thoughtful and careful before speaking out, often used by credible individuals, organizations and news outlets. However, this article wants to focus on the post hoc process, the process of filtering information and combating misinformation and misconceptions. In addition to trusted newsgroups and organizations that use post hoc, everyone should know how to use this method regularly.

2. Why do we need fact-checking?

So why fact-checking is important? Ironically, the development of science and technology has spurred the increase of incorrect or unconfirmed news, as well as the variety of means to spread such news. In addition to the efforts to filter information from the government and some trusted media, there is still a considerable amount of misinformation passing through or approaching readers. When receiving inaccurate information, readers will encounter changes ideologically or psychologically, triggering extreme thoughts, and lose the trust of those around them. Worse, such individuals can be controlled by the source and vulnerable to scamming, thus suffering financially or mentally. To avoid falling into these situations, it is necessary to handle the information with patience, absorb real information and reject other news.

3. How to fact-check?

There are three steps to a fact-check:

– Step 1: Verify the source

This is a common step in verifying common information. As the old saying goes, “speak with books, accuse with proof.” When receiving information, each person needs to trace the information back to its roots. If the news is an affirmation from a reputable place, such as the National News channel, this step is complete; conversely, a post is intended to attract attention, for example, is likely to be false. With hypothesis and rumors, things that are not necessarily right or wrong, continue with the following step. As for information that cannot be traced, the best is to put it aside and wait for more information to verify, but no one should not label it as “true” or “false”.

– Step 2: Compare between news sources

The next thing to do is to locate that information on other reliable information channels and compare this information between different information sites. If there is an almost unanimous similarity, then only the checking for deviations is the only thing left to the end of this step. At this point, the news is claiming to be true, but with theories and rumors, it requires a further step. However, if there are obvious misleading details, one needs to examine more broadly. Sometimes, it is a mistake of a news source, but, for intentional deviations, the last step may be taken.

– Step 3: Verify evidence

Though this is a step few people conduct, it is very important in understanding the controversial information, theories, and rumors. At this stage, it is necessary to review the evidence presented to support or deny the two sides. Like the above steps, it is necessary to revise the process of reviewing each evidence as with information and only after a complete overview of the opinions of the two sides can a final decision be made to support one of the two sides. Each person has a different perspective, so when providing information, one should not give subjective views but remain neutral and provide only personal opinions when asked.

4. Some reliable sources

– Vietnamese:

National and local television news channels (e.g., VTV1), major and famed newspapers (e.g., Dan Tri), government agencies, major research institutes.

–  International:

Major newspapers and television news channels (e.g., CNN, The New York Times), scientific news journals (e.g., Nature), major research institutes, and major universities.

[Giới thiệu chuyên mục – Corners Introduction]

English

ScientiFact

Giữa cơn bão khắc nghiệt, điên cuồng, hẳn ai cũng cố để tìm đến mắt bão bình yên, nhưng với “cơn bão thông tin”, tìm được mắt bão quả thực là một thử thách vô cùng khó khăn. Trong cuộc cách mạng Công nghiệp 4.0, cơn bão này như gặp được chất xúc tác, sự càn quét của nó đến ngày một nhanh hơn, rộng lớn hơn và đa dạng hơn. Cũng đồng hành với thế giới trong “cơn bão thông tin”, lại với góc nhìn của người đam mê khoa học, những thành viên sáng lập của P.R.I.S.M. đã đặt ra một câu hỏi cấp thiết: Làm thế nào để có kỹ năng tiếp nhận những thông tin chính xác và khách quan nhất, “sống sót” thành công qua cơn bão ấy? Sau nhiều suy nghĩ trăn trở, dự án chúng mình xin giới thiệu một chuyên mục hoàn toàn mới mang tên “ScientiFact”, với mong muốn đây là bến đỗ thông tin nho nhỏ giúp bạn tiến gần hơn tới mắt bão yên bình.

Tên chuyên mục này là cách chơi chữ trong tiếng anh, kết hợp giữa từ “scientific”, nghĩa là “mang tính khoa học”, và từ “fact”, nghĩa là “sự thật”. Cũng như chính cái tên của mình, “ScientiFact” được sinh ra với mục đích là làm cho hệ thống thông tin ngày càng được “khoa học hoá”, ngày càng chính xác hơn. Nếu như mọi người thường chỉ quan tâm đến sai và đúng thì ScientiFact sẽ còn bàn luận tới cả những khái niệm, ý kiến nằm ở miền ranh giới mỏng manh giữa chúng. Không dừng lại ở làm rõ đúng sai, chuyên mục còn phân biệt những thông tin không có cơ sở, hoặc còn gây tranh cãi.

Nhiều người thoạt đầu có thể sẽ nghĩ thế giới thông tin có phần nhàm chán, khô khan, và hỗn loạn, từ đó cho rằng cho nội dung của chuyên mục thiếu đi sự thu hút cần thiết. Tuy nhiên, các thành viên của dự án P.R.I.S.M. sẽ cố gắng hết mình để liên tục cập nhật các tin tức và chủ đề cấp thiết, được quan tâm, cũng như lồng ghép các kiến thức khoa học, nhằm giúp các độc giả thêm hứng thú với nội dung truyền tải. Trên hết, chúng mình muốn gửi tới thông điệp về một cộng đồng chủ động, có đủ nhận thức để tiếp nhận thông tin một cách hợp lý. Hãy đón nhận và tương tác với ScientiFact để hỗ trợ P.R.I.S.M. mang đến một nguồn tin hữu ích cho mọi người nhé!

ScientiFact

In a mad storm, everyone wants to stay in the eye of the storm, but with the “information storm”, finding the eye is an extremely difficult task. During the Industrial Revolution 4.0, this storm thrives as if in a catalyst, causing its sweep to grow faster, larger and more diverse. So the question P.R.I.S.M. setting out is how to get the skills to receive the most accurate and objective information – to “survive” successfully through that storm. Our project would like to introduce a brand new corner “ScientiFact”, with the hope that this is a small information landing place in the peaceful eye of the storm.

This category name is a combination of the word “scientific”, and the word “fact”, meaning “truth”. As the name suggests, this category was born to make the information system more “scientific” – more accurate. If people usually only care about wrong and right then ScientiFact will fill the remaining gaps. Do not stop at differentiating right and wrong, the corner also distinguishes information that is not grounded, or controversial.

Many people may at first think the information world is a bit boring, arid, and chaotic, assuming that the content of the corner lacks the necessary attractiveness. However, members of the P.R.I.S.M. project will try our best with the constant updates of urgent and relevant news and topics, as well as the integration of scientific knowledge so that readers will find it more interesting to read the content. Above all, we want to convey the message of an active, aware community to receive information appropriately. Please welcome and interact with ScientiFact to support P.R.I.S.M. and brings a useful source for everyone!