[BÀI DỰ THI LE SPECTRE #4: KẺ PHẢN THẦN]

Tác giả: Nguyễn Quang Huy
Lớp – Trường:
Đại Học Sư Phạm Hà Nội 1

“…Vào những thời đại xa xưa, các vị thần xuất hiện và cai trị loài người. Họ xây dựng lên những vương quốc rộng lớn, những đội quân chiến binh thần thánh, con người sống trong ánh hào quang rực rỡ tỏa ra từ họ… Tất cả đều viên mãn và tràn đầy hy vọng.

Mặc dù vậy, mặt đất chỉ có giới hạn của riêng nó, còn lòng tham và mong muốn thống trị thì không thể kiềm chế được. Các cuộc chiến đã nổ ra – Cuộc Chiến Giữa Các Vị Thần, từ ngày này qua ngày khác, từ tháng này qua tháng khác, từ năm này qua năm khác…, cho đến khi Cuộc Chiến Định Mệnh diễn ra. Cuộc chiến khốc liệt chưa từng có trong lịch sử của thế giới kéo dài 20 năm, mạnh mẽ và tàn khốc, cuộc chiến đã làm thay đổi cả nền móng của mặt đất và gây ảnh hưởng đến cả loài người và các vị thần.

Thế giới trở nên hỗn loạn, sự hủy diệt bao trùm khắp các mảnh đất và hy vọng chỉ còn là đốm lửa tàn trước cơn gió…”.

Phải! Chúng tôi – những nữ tu ở Đền Thờ Minerva đã được giảng về những điều này từ khi được Đại Tư Tế Freya cưu mang, giúp chúng tôi thoát khỏi xiềng xích của những tên thương nhân nô lệ cho đến khi làm lễ thề nguyện vào năm 16 tuổi rằng sẽ sống cả đời trinh bạch, giữ sự trong sáng để phục vụ cho ý muốn cao cả của Vị Thần Bảo Hộ thành phố Vamia.

Tôi nghe những câu này đến mức thuộc lòng và phát chán về việc phải nghe đi nghe lại suốt từng ấy thời gian. Tôi dám cá rằng tất cả những nữ tu khác trong nhóm chúng tôi đều có suy nghĩ như vậy nhưng sẽ không có ai biểu lộ bất kì một thái độ gì ra trước mặt kể cả tôi vì chúng tôi biết rằng nếu không có sự giúp đỡ và lòng nhân từ của Freya thì chúng tôi vẫn sẽ ở trên những chiếc xe chở đầy ắp những người nô lệ đem bán cho những tên nhà giàu, chúng tôi sẽ phải chịu đựng, làm những công việc ghê tởm mà chúng bảo. Vậy nên việc ngồi đây nghe Đại Tư Tế giảng dạy về kinh thánh là một việc còn dễ chịu và thoải mái hơn nhiều.

Có lẽ ở đây chỉ trừ mỗi Irina, cô ta thực sự lắng nghe một cách chăm chú như thể cô sẽ được ban phước lành nếu như làm việc đó. Tôi đoán là do cô ta khác chúng tôi, thay vì là nhưng kẻ nô lệ được Đại Tư Tế cứu giúp, coi đền thờ như chỗ lánh nạn thì cô ta lại xuất thân từ một gia đình quý tộc có tiếng trong thành phố Vamia này. Cô ta vốn dĩ là một vị tiểu thư nhưng đã có một động lực gì đó thúc đẩy cô ấy bỏ nhà đi và trở thành một nữ tu ở đây.

Trong khi tôi đang thầm nghĩ về Irina thì đã nghe thấy tiếng Đại Tư Tế gọi tôi: “Glorianna…!”, đây cái tên mà Freya đã đặt cho tôi khi tôi được đưa về Đền Thờ và làm lễ thề nguyện, trước đó các chị em gọi tôi là Ira.

Chắc hẳn bà ấy đã để ý đến ánh mắt mất tập trung của tôi, đây không phải lần đầu tiên của tôi. Như thường lệ, bà vẫn yêu cầu tôi tiếp tục những lời mà bà đang giảng.

Tôi đứng lên, nhìn bà ấy bằng một ánh mắt hối lỗi của một nữ tu ngoan đạo và ngay thẳng chẳng may phạm phải điều sai trái, sau đó làm theo yêu cầu của bà: “Trong những giây phút cuối cùng của thế giới, Cửu Thần đã xuất hiện, các Ngài thương xót cho con người, các Ngài đứng lên chống lại tất cả các vị thần khác và cứu rỗi thế giới. Loài người đã thoát khỏi diệt vong, hòa bình đã được thiết lập lại và một kỷ nguyên mới đã được mở ra cho đến ngày nay, chúng ta vẫn sống và hưởng thụ những điều tốt đẹp trong nó – Kỷ Nguyên Ánh Sáng…”.

Tôi bắt đầu quỳ xuống và chắp tay đọc những lời cầu nguyện mà Freya từng dạy cho chúng tôi: “Chúng ta, thế hệ của những người con được Cửu Thần thương xót và cứu vớt, cho dù đã hơn mười nghìn năm trôi qua, chúng ta vẫn phải duy trì lòng biết ơn và sự sùng kính tới các Ngài, công ơn của các Ngài không thể đong đếm bằng những con số mà ta biết, chỉ có thể dùng cả cuộc đời này phục tùng ý nguyện của các Ngài mới có thể bày tỏ hết lòng mến mộ của chúng ta…”.

Tôi đọc to tên và bắt đầu ca ngợi các Ngài, đó là cách để bày tỏ lòng thành theo như những gì mà Freya chỉ dạy: “Hỡi nữ thần Vera! Nữ Hoàng Tinh Tú, nữ thần quyền lực đứng đầu Cửu Thần… xin bà hãy chỉ đường dẫn lối cho con được đến với tình yêu và hạnh phúc.

Hỡi thần Lửa Talio! người nắm giữ quyền năng của ngọn lửa thuần khiết nhất, Đấng Phu Quân của Vera, chứng minh cho sự trong sạch của con.

Cúi xin Người Cai Quản Và Chăm Sóc Cây Cối, nữ thần Mùa Màng Malia ban phát cho vụ mùa được bội thu, cho đất đai màu mỡ.

Hỡi thần Gió Taigar! Vị Chúa Tể Đằng Sau Những Cơn Bão, Ngài sẽ ban cho những tín đồ trung thành của mình tốc độ phi thường và khả năng bay lượn.

Hỡi nữ thần xinh đẹp nhất trong các vị thần! nữ thần Nước Melian, bà đem nước đến các thành phố, duy trì sự sống trong ta… Là vị thần nhân từ, nước mắt bà sẽ rửa trôi mọi tội lỗi của kẻ biết sám hối.

Đời đời nhớ ơn thần Isarva, Vị Chiến Thần hùng mạnh đã đứng lên kêu gọi và dập tắt cuộc chiến năm xưa.
Cầu xin thần Thịnh Vượng Limpanor, Chúa Tể Châu Báu ban phát sự giàu có đến mọi người.

Hỡi thần Vairu! Nam Thần Công Lý, Sứ Giả Hòa Bình, trợ thủ đắc lực của Vera và Talio, cầu xin Ngài hãy duy trì sự hòa bình của Kỷ Nguyên Ánh Sáng.

Và hỡi ôi nữ thần Sức Mạnh Và Năng Lượng Minerva! Người là Vị Thần Bảo Hộ cho cả thành phố Vamia này, con và người dân của Vamia xin được tạ ơn vị nữ thần đã che trở cho chúng con và thành phố hơn mười nghìn năm qua. Người là nguồn sống trong con, là sức mạnh tiềm ẩn, bảo vệ và chữa lành cho con…”.

Đại Tư Tế Freya tỏ rõ nét mặt hài lòng với những gì tôi vừa thể hiện, có lẽ bà đã bỏ qua cho tôi.

Tiếng chuông của Đền Thờ bắt đầu reo lên báo hiệu mặt trời đang đi về phía cuối rặng núi, những ngọn nến bắt đầu được thắp lên trong đại sảnh và trên bệ thờ của nữ thần Minerva. Chúng tôi xếp hai thành hàng đứng sau Đại Tư Tế Freya để làm lễ cầu nguyện trước khi màn đêm buông xuống, từng lời cầu nguyện được thốt ra trước bức tượng khổng lồ của Nữ Thần Minerva, bức tượng miêu tả nữ thần đang cầm một thanh giáo giương cao về phía trước, tay còn lại của bà đang cầm một chiếc cung tên bằng vàng. Cả một không gian rộng lớn giờ đây được bao phủ bởi một lớp màu huyền ảo và thần thánh.

Tất cả các hoạt động cúng tế đều diễn ra trước bức tượng nữ thần nhưng tôi chưa bao giờ thấy một Minerva nào ngoài đời, xuất hiện dưới hình dạng vĩ đại mà chúng tôi tôn thờ để nghe chúng tôi cầu nguyện và nhận lấy lễ vật của chúng tôi cả. Điều đó thúc đẩy tôi mong muốn được một lần gặp trực tiếp nữ thần, hàng vạn câu hỏi về nữ thần bỗng nảy ra trong tôi và trong một phút sai lầm, tôi đã phạm vào một điều cấm kị của những nữ tu tại Đền Thờ, nghi ngờ vị thần của mình.

Tại trung tâm cao nhất của thành phố Vamia này là nơi đặt Tòa Tháp Tối Cao, một tòa tháp to lớn và chọc trời, đỉnh của tòa tháp đó chính là nơi ngự trị của nữ thần Minerva. Người ta vẫn hay đồn rằng nữ thần ngồi ở đó, trên ngai vàng quyền lực của mình, nhìn xuống và theo dõi hành động của những người dân Vamia.

Tòa Tháp Tối Cao là nơi cấm kị, không một người ngoài nào có thể đi vào trong tòa tháp, chỉ có những Vị Hầu Cận của nữ thần, những tay sai trung thành mới được phép ra vào nơi đó. Đền thờ nằm cách không xa tòa tháp là bao, đứng từ đây tôi có thể thấy bóng dáng những người Hầu Cận đi qua lại quanh tòa tháp. Cách ăn mặc của họ tỏ ra khá bí ẩn khi họ trùm kín người bằng chiếc áo choàng đen che phủ đến tận gót chân, không ai từng thấy được mặt của họ bởi vì họ thường xuyên đeo một chiếc mặt nạ với những hoa văn để che đi gương mặt của mình.

*
* *

Chúng tôi nhận được tin báo rằng các vị Hầu Cận sẽ đi tới Đền Thờ vào sáng ngày mai để truyền đạt lại ý chỉ của nữ thần Minerva đến chúng tôi. Đại Tư Tế Freya cùng các nữ tu khác đều vui mừng, đây là lần đầu tiên trong đời chúng tôi được tiếp xúc với điều này, tất cả đều cảm thấy như được ở gần bà ấy mặc dù chỉ là thông qua ý chỉ của bà. Tin tức lan truyền rất nhanh, trong phút chốc, không chỉ chúng tôi mà cả người dân thành phố Vamia đều đã biết tin này.

Ngay khi mặt trời vừa ló rạng, tiếng chuông Đền Thờ đã bắt đầu ngân vang, thông thường các nữ tu sẽ thay phiên nhau thức dậy và làm việc này nhưng có lẽ hôm nay là ngày đặc biệt, ngày mà một Đại Tư Tế của Đền Thờ như Freya lại tự làm lấy điều này. Có lẽ bà ấy lo rằng chúng tôi sẽ làm sai mất điều gì hay đó là cách bà ấy thể hiện lòng thành của mình. Tôi nghĩ là cả hai.

Các nữ tu khác cũng đã thức dậy khỏi giường, họ đang chuẩn bị những bộ y phục chu đáo nhất cho ngày hôm nay. “Cô nên chuẩn bị từ lúc này đi, Glorianna! Các Hầu Cận sẽ không muốn nhìn thấy một nữ tu nhếch nhác đâu!”, tôi quay sang và thấy Irina đứng bên cạnh giường tôi, cô ta dùng giọng điệu nghiêm khắc để nhắc nhở tôi như một Đại Tư Tế vậy.

Tôi đáp lại cô ta: “Tôi nghĩ vị trí Đại Tư Tế tiếp theo sẽ do cô tiếp quản đó, Irina!”. Cô ta nhìn tôi bằng cặp mắt không mấy thiện cảm, sau đó cô ấy quay đi và bỏ mặc tôi vẫn đang ngồi trên giường.

Bọn tôi chuẩn bị thật chỉnh chu sau đó di chuyển đến đại sảnh của Đền Thờ để cầu nguyện. Đền Thờ đã được chính tay Đại Tư Tế Freya thắp từng ngọn nến và treo từng vòng hoa, cửa chính của đại sảnh đã được mở ra từ lâu, bà ấy đã dậy sớm để làm công việc này, công việc của một tín đồ trung thành nhất.

Bên ngoài tôi có thể nhìn thấy đã có hàng ngàn người dân của Vamia lũ lượt kéo nhau ra ngoài, đứng chật những con đường được lát đá cẩm thạch trắng để được xem các vị Hầu Cận thần thánh của Minerva.

Ngay khi những lời cầu nguyện cuối cùng được thốt lên cũng chính là lúc các vị Hầu Cận đi ra từ Chiếc Cổng Vàng của Tòa Tháp Tối Cao. Một khung cảnh thần thánh hiện ra trước mắt khiến ngay cả người đứng ở vị trí xa nhất cũng cảm thấy ngỡ ngàng, các vị Hầu Cận không bước đi trên nền đất như chúng tôi, họ sải bước trên không trung giống như họ còn nhẹ hơn cả không khí, họ bước đi trên những đôi giày phát ra ngọn lửa màu xanh dương. “Thứ lửa thần thánh nào có thể giúp họ bước đi nhẹ nhàng trên không khí đến vậy?”, tôi thầm nghĩ. Từng bước đi của họ đều nhẹ nhàng và uyển chuyển như những bản nhạc khiến bao người khác ngưỡng mộ.

Sau những giây phút im lặng ngỡ ngàng của người dân Vamia, tôi bắt đầu nghe thấy tiếng họ hò reo, họ tung hô, họ ca ngợi các vị Hầu Cận và nữ thần Minerva, những cánh hoa nhiều màu sắc được họ tung lên bầu trời trong khi hô to tên Minerva để tỏ lòng thành. Có lẽ họ hy vọng rằng một trong số các Hầu Cận sẽ để ý đến họ và đem lời ca ngợi của họ đến tai nữ thần chăng?

Đoàn Hầu Cận vẫn bước đi nhẹ nhàng trên không trung, thẳng tiến tới Đền Thờ vị nữ thần họ phục tùng. Chỉ sau khi bước vào trong sảnh thờ, những ngọn lửa xanh tỏa ra dưới những chiếc giày của họ mới bắt đầu mờ nhạt dần đi và đôi chân của họ từ từ đặt xuống sàn đá của đại sảnh.

Tất cả các nữ tu và Đại Tư Tế Freya đều phải nghiêng mình cúi đầu trước họ, những người đưa tin thần thánh. Bộ áo choàng cùng với những chiếc mặt nạ càng làm tăng thêm vẻ huyền bí và quyền lực của họ. Một cảm giác rất thần thánh, rất quyền năng trỗi dậy trong tôi khi nhìn vào những vị Hầu Cận.

Vị Hầu Cần đứng đầu, tôi đoán đó là người có vị thế cao nhất, đưa cho Đại Tư Tế Freya một cuộn giấy bằng vàng lấp lánh cùng với những đường nét phát sáng trên những con chữ, chúng sáng đến nỗi có thể nhìn thấy qua mặt sau của tờ giấy.

Đại Tư Tế Freya kính cẩn đón nhận lấy cuộn giấy thiêng, tôi có thể thấy sự cẩn thận và tỉ mỉ trong từng động tác của bà ấy. Ý chỉ của Nữ thần Minerva được ghi trong tờ giấy khiến bà ấy có vẻ trầm ngâm, sau đó lại lộ chút vui mừng rồi lại về dáng vẻ trầm ngâm. Khoảnh khắc bà ấy cuộn tờ giấy lại cũng chính là lúc Freya quay sang phía chúng tôi và thông báo về ý chỉ của nữ thần.

Để tỏ lòng tôn kính, chúng tôi đều chắp tay cúi mình trước cuộn giấy bởi vì hiện tại cuộn giấy chính là hiện thân của vị nữ thần.

Freya bắt đầu truyền đạt: “Các con của ta! Hôm nay là một ngày đặc biệt. Hãy ngước nhìn nữ thần và thầm cảm ơn ân huệ của bà. Một trong số chúng ta sẽ được chọn để bước chân vào Tòa Tháp Tối Cao, nơi ngự trị của nữ thần Minerva, chúng ta sẽ được truyền dạy lại các kiến thức để trở thành bề tôi cho nữ thần.”.

Giọng nói của bà ấy tuy có phần trang nghiêm nhưng lại không giấu được sự vui mừng khôn xiết của một tín đồ trung thành.

Ngay khi Freya quay lại về phía vị Hầu Cận, trước mặt bà ấy đã là một quả cầu thủy tinh, trên đó có những đường nét kì lạ, vừa loằng ngoằng nhưng lại tuân theo một quy luật, một khuôn mẫu cụ thể nào đó. Chúng phát ra thứ ánh sáng màu vàng rực, Đại Tư Tế như bị thôi miên trước quả cầu, mắt bà ấy mở to, nhìn thẳng vào đó mà không có một lần chớp mắt.

Tất cả những nữ tu khác, kể cả tôi đều bất ngờ trước sự hiện diện của quả cầu. Tôi nghe thấy tiếng Freya ngơ ngác nói về nó: “Con Mắt Của Nữ Thần Minerva…!”.

Ánh sáng của quả cầu càng lúc càng phát ra mạnh hơn, bao phủ khắp sảnh thờ và lọt cả ra bên ngoài trước sự chứng kiến của hàng ngàn người dân Vamia. Thứ ánh sáng thần thánh đó bỗng chốc thu gọn lại chỉ còn một tia sáng nhỏ và chỉ thẳng vào trán của tôi.

Tôi ngỡ ngàng nhìn xung quanh, tất cả mọi ánh mắt đều đổ dồn về phía tôi.

“Cô ta là người được chọn, cô ta sẽ đi tới Tòa Tháp Tối Cao theo như ý chỉ của nữ thần.”, một vị Hầu Cận chỉ vào tôi và nói.

Đại Tư Tế đáp lại bằng một giọng điệu thẫn thờ trong khi đang nhìn tôi: “Ý chỉ của nữ thần Minerva là tối cao… con nguyện nghe theo lời của Người… ”.

Một vị Hầu Cận đứng sau cất tiếng: “Cô có ngày hôm nay để chuẩn bị! Cho đến khi mặt trời đi về phía rặng núi, cô sẽ tự đi từ Đền Thờ đến Tòa Tháp Tối Cao bằng chính đôi chân của mình.”.

Tôi thực sự bất ngờ về chuyện vừa xảy ra và tôi càng lo lắng hơn nữa về chuyện sắp tới. Tôi không biết có nên cảm thấy tự hào hay không nhưng tôi thực sự có chút phấn khởi khi mà có cơ hội được nhìn thấy nữ thần Minerva ngoài đời thực…

*
* *

Trong tư phòng của chúng tôi, khi mà tất cả các chị em đều đang ở bên cạnh tôi, trong khi họ vui mừng và cầu chúc cho tôi thì Irina chỉ đứng khoanh tay và dựa vào tường. Cô ta nhìn tôi, tôi cảm thấy sự khó chịu cùng với lòng đố kị trong mắt cô ta. Nếu như bây giờ tôi ngỏ ý nhờ cô ta đi thay chắc chắn cô ta sẽ đồng ý mà không có chút do dự gì.

Tôi cố gắng không để ý tới cô ta và tranh thủ chút thời gian còn lại dành cho các chị em của mình trước khi bắt đầu một cuộc sống mới.

Tiếng chuông Đền Thờ bắt đầu vang lên, Đại Tư Tế Freya đã đứng chờ sẵn để tiễn đưa tôi, bà nói: “Hãy vững tin con gái của ta! Hãy gửi lời cầu nguyện của ta đến nữ thần!”. Có lẽ đây là những lời cuối cùng tôi nghe được từ bà.

Cánh cổng Đền Thờ được mở ra, trước mặt tôi giờ là một con đường trải thảm đỏ kéo dài đến tận chân của Chiếc Cổng Vàng tại Tòa Tháp Tối Cao, hai bên đường chật ních những người dân của thành phố Vamia, họ tới xem tôi, một Hầu Cận tập sự của nữ thần.

Trên tay họ là những thứ hoa đầy đủ màu sắc, họ tung lên, họ rải xuống con đường tôi đi trong khi hô to tên của nữ thần. “Minerva… Minerva…!”, họ ca ngợi tên bà, tôi có thể cảm thấy thế.

Tòa Tháp Tối Cao hiện ra khổng lồ trước con mắt của tôi, đứng trên những bậc thềm cao nhất, tôi có thể thấy mình ngang bằng với những tháp canh cạnh tường thành. Chiếc Cổng Vàng của tòa tháp được chạm khắc tỉ mỉ những nét hoa văn miêu tả hình ảnh nữ thần đang chinh chiến, miêu tả mặt trăng, mặt trời và các vì sao.

Tôi quay lại nhìn khung cảnh thành phố một lần cuối. Dưới ánh hoàng hôn, một khung cảnh hùng vĩ hiện ra trước mắt tôi. Cả thành phố Trắng Vamia rộng lớn được bao phủ bằng một màu hồng đỏ của mặt trời phía chân núi, ánh sáng kéo dài cả chục dặm. Trên những bước tường thành của Vamia, lính canh vẫn đứng gác, bảo vệ cho một nền văn minh đã hơn mười nghìn tuổi. Tôi thầm nghĩ: “Nếu như Vamia đã đẹp như vậy, thì những thành phố khác còn đẹp đến nhường nào?”.

Tôi đã từng nghe Freya giảng về Đại Kinh Đô Andolin, nơi cai trị của Vera và Talio, thành phố Trên Cây Longolin của Malia, thành phố Gió Vastmar của thần Taigar, kinh thành Ven Biển Narya của Melian, Mỏ Vàng Và Đá Quý Monia của chúa tể Limpanor, Ambria của Isarva hay Arya của Vairu. Một sự tò mò trỗi dậy trong tôi, nếu có thể tôi sẽ tự đi đến để chiêm ngưỡng các thành phố đó…

Chiếc Cổng Vàng của Tòa Tháp Tối Cao bỗng mở ra, tiếng động đã phá vỡ sự mất tập trung của tôi, kéo tôi về thực tại của mình. Tôi sắp bước vào đây, bước vào nơi mình sẽ dành cả đời ở bên trong, tách biệt với thế giới bên ngoài chỉ để học cách phục vụ một vị thần.

Phía sau Chiếc Cổng Vàng là một đại sảnh rộng lớn, tòa tháp tuy to lớn, nhưng đứng nhìn vào trong tôi có thể thấy đại sảnh còn rộng lớn hơn ngoài phạm vi của tòa tháp, tôi cảm thấy kì lạ hoặc có thể là một điều gì đó mới lạ mà tôi chưa biết.

Có hai vị Hầu Cận ra đón tôi vào trong tòa tháp. Tôi vẫn nghe thấy tiếng những người dân của Vamia hô to những lời ca ngợi nữ thần trước khi cánh cửa đóng hoàn toàn. Các vị Hầu Cận phát cho tôi những bộ áo choàng đen trùm kín người như họ đang mặc.

Tất cả các vị Hầu Cận đều đeo mặt nạ mọi lúc, mọi nơi và khá kiệm lời. Họ chia ra làm 11 nhánh, mỗi nhánh có một vị Hầu Cận Bậc Cao đứng đầu, dưới quyền họ là các vị Hầu Cận bậc thấp hơn. Có một vị Hầu Cận Bậc Trung được giao nhiệm vụ quản thúc và phổ biến cho tôi về luật lệ và tên gọi các nhánh ở đây. Tôi không bất ngờ mấy vì luật lệ ở đây cũng không khác gì hồi còn ở Đền Thờ, thứ duy nhất làm tôi bất ngờ đó là những cái tên kì lạ mà họ đặt cho các nhánh ở đây.

Mười một nhánh là mười một tên gọi kì lạ khác nhau bao gồm: Toán Học – Mathematism, Vật Lý Học – Physicism, Hóa Học – Chemistrism, Sinh Học – Biolism, Chiêm Tinh Học – Astrologism, Thiên Văn Học – Astronism, Địa Lý Học – Geogrism, Khí Tượng Học – Meteorolism, Thủy Văn Học – Hydrolism, Địa Chất Học – Geologism, Hải Dương Học – Oceanism. Những cái tên kì lạ mà tôi chưa từng nghe thấy một lần ngoài kia, tôi mặc định đó là những cái tên chỉ thần thánh mới được sử dụng. Sau khi cố gắng hỏi vị Hầu Cận quản thúc tôi, cuối cùng tôi cũng biết Ngài ấy là người của nhánh Physicism.

Việc học tập kiến thức ở đây được bắt đầu ngay ngày sau đó, tôi không có thời gian để làm quen với không khí của nơi đây, cũng chẳng có thời gian để bắt chuyện với các vị Hầu Cận khác, mọi sự bỡ ngỡ của tôi đều phải gạt qua một bên để có thể tập trung vào việc học tập kiến thức mà họ truyền đạt.

Bài học đầu tiên của tôi ở đây là một bài học kì lạ. “Hãy quên hết những thứ cô được dạy ở Đền Thờ!”, đó là điều mà một vị Hầu Cận thuộc nhánh Mathematism dạy tôi vào buổi học đầu tiên. Khi được hỏi về điều này, họ bắt đầu tỏ ra bí mật và giữ kín lý do khỏi tôi. Việc duy nhất tôi được phép làm ở đây là lắng nghe và ghi nhớ tất cả những gì họ giảng dạy, tất cả kiến thức đều mới lạ với tôi.

Những vị Hầu Cận thuộc nhánh Mathematism dạy tôi về những con số, cấu trúc, không gian, sự thay đổi…, họ có thứ thuật ngữ gọi là phép toán. Tôi được học nhiều phép toán, nhiều loại công thức khác nhau, họ yêu cầu tôi phải ghi nhớ thật kĩ những kiến thức đó vì họ sẽ kiểm tra tôi đột xuất.

Những vị Hầu Cận thuộc nhánh Physicism dạy tôi về thứ gọi là vật chất và chuyển động của vật chất cùng với những thứ kì lạ như năng lượng và thế nào là lực. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi được biết rằng trong ánh sáng mà tôi thường thấy lại có bảy loại màu sắc khác nhau bao gồm: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím. Họ gọi đó là Quang Phổ của ánh sáng…

Sang đến Chemistrism, tôi được họ dạy về các nguyên tố, hợp chất, sâu hơn nữa là các nguyên tử, phân tử. Họ chỉ dạy tôi làm thí nghiệm với những lọ đựng các chất lỏng nhiều màu của họ để xem chúng “hòa” với nhau, theo cách họ gọi là phản ứng hóa học.

Các vị Hầu Cận ở nhánh Astrologism họ dạy tôi quan sát các vì sao thông qua một lỗ nhỏ của ống kính khi bạn hướng phần đầu to hơn lên trời. Họ đặt tên cho các vì sao, họ chỉ cho tôi đâu là Xử Nữ, đâu là Sư Tử… họ gọi đó là 12 Cung Hoàng Đạo. Họ quan sát sự chuyển động của các ngôi sao và chòm sao trên bầu trời để đưa ra dự đoán. Khi được hỏi về quyền năng cai quản và tạo ra các vì sao của Nữ Hoàng Tinh Tú Vera thì tôi vẫn nhận được sự lảng tránh từ họ.

Mọi kiến thức càng trở nên rắc rối và khó hiểu hơn nữa khi tôi được các vị Hầu Cận của nhánh Astronism giảng dạy. Họ dạy tôi rằng mặt đất không hề vuông vắn như Đền Thờ vẫn nghĩ và thực chất chúng ta chỉ đang đứng trên một khối cầu gọi là Trái Đất và nó quay xung quanh mặt trời. Điều này đi ngược lại tất cả những gì tôi được học tại Đền Thờ, rằng mặt đất là trung tâm vũ trụ, tất cả đều vì sao, mặt trăng, mặt trời đều bao quanh nó.

Họ cho tôi xem những hình ảnh tạo thành bằng những tia sáng phát ra từ một chiếc hộp kim loại nhỏ để tôi có thể quan sát nơi tôi đang sống – Trái Đất, về những quả cầu khổng lồ khác đang di chuyển quanh một quả cầu lửa vĩ đại. Chiếc hộp còn có thể cho tôi nhìn thấy hình ảnh thành phố Vamia hùng vĩ với góc nhìn từ trên cao hàng trăm mét. Tôi không thể tin được vào mắt mình.

Thông qua những chiếc kính khổng lồ của họ, chúng còn to lớn hơn cả những chiếc kính của nhánh Astrologism gấp vạn lần, nó cho tôi nhìn thấy những thứ còn to lớn hơn cả những vì sao sáng nhất. Các vị Hầu Cận gọi đó là các hành tinh hay tinh cầu, những vì sao đang chuyển động gọi là những ngôi sao chổi, chúng không phải là nước mắt của Vera mà tôi vẫn được dạy…

Những vị Hầu Cận ở nhánh Geogrism dạy cho tôi về những vùng đất, địa hình của chúng cùng với những con người, các phong tục của họ và các hiện tượng tự nhiên. Thông qua chiếc hộp phát ra ánh sáng, họ cho tôi nhìn thấy những thành phố hùng vĩ của Kỷ Nguyên Ánh Sáng. Giờ đây, nào là Đại Kinh Đô Andolin, Vastmar, Narya hay Longolin,…, tất cả đều thu gọn vào trong một khung hình trước mắt tôi, nhưng nó vẫn giữ được nét vĩ đại, quyền thế và hoàn mĩ trong sự thịnh vượng và hòa bình suốt cả chục nghìn năm
Khác với Geogrism, các vị Hầu Cận của Geologism có vẻ chuyên về việc nghiêm cứu các thành phần, cấu trúc, đặc điểm của lớp vỏ mặt đất cùng với các chất cấu tạo nên nó hơn. Họ dạy cho tôi rất nhiều thứ về quá trình hình thành, vận chuyển và biến đổi của các chất này…

Những vị Hầu Cận ở nhánh Meteorolism đã nghiên cứu về lớp khí bao quanh Trái Đất từ lâu và họ dạy tôi những cách nhận biết và dự đoán các hiện tượng thời tiết.

“Chúng ta đâu thể đoán trước được ý muốn của thần Gió Taigar?”, tôi cố gắng tìm câu trả lời cho câu hỏi của mình. Họ chỉ bật cười về câu hỏi của tôi sau đó khuyên tôi nên bỏ qua những lời trong kinh sách và tập trung vào điều họ dạy.

Các vị Hầu Cận Hydrolism giảng dạy cho tôi về sự vận động, phân phối của các dòng nước và các nguồn nước trên mặt đất. Còn Oceanism thì tập trung nghiêm cứu về đại dương cùng những gì diễn ra bên trong nó và sự liên quan tới nhiều vấn đề khác.

Tất cả những điều họ dạy đều không thể làm khó được tôi, tôi cố gắng ghi nhớ và vượt qua các bài kiểm tra để làm hài lòng tất cả bọn họ.

Cho đến khi được gặp các vị Hầu Cận của nhánh Biolism, họ là những người thân cận nhất với nữ thần Minerva và cũng là những người mang những từ ngữ khó hiểu nhất để giảng dạy cho tôi.

Tại Đền Thờ, tôi được Freya giảng về việc các vị thần nặn ra hình hài con người bằng bùn và đất sét nhưng ở đây tất cả đều bị họ bác bỏ. “Nhảm nhí…!”, đó là cách họ nói với tôi.

“Thật kì lạ! Nếu như ở ngoài kia, một người nào đó có ý xúc phạm tới các vị thần sẽ bị lôi ra xét xử ngay lập tức. Nhưng ở đây họ, những người phục vụ thần linh lại có thể buông ra những lời như thế sao?”, tôi chỉ để những suy nghĩ này trong đầu và sẽ không bao giờ dám nói ra.

Một điều đáng kì lạ nữa, chính Minerva lại là người để cho họ nói những điều đó ư? Một vị nữ thần lại để cho tay sai của mình động chạm đến danh hiệu mình ư? Tôi đã từng khá nghi ngờ về một vị thần và giờ đây điều đó lại hiện hữu bên trong tôi.

Các vị Hầu Cận giảng cho tôi những kiến thức về tế bào, các mã gen, tiến hóa, di truyền và cân bằng nội môi… Họ giải thích một cách rất chặt chẽ về sự sống trên Trái Đất và con người. Tất cả những điều được ghi trong kinh sách đều trở nên phi lý dưới kiến thức họ giảng dạy, nó khiến tôi nghi ngờ về những câu nói trong kinh văn, tại sao những gì họ truyền đạt lại khác xa thế giới bên ngoài như vậy? Liệu có một điều gì đó bí ẩn đang bị che giấu đằng sau những lời lẽ đó hay chăng?

Ngoài việc học tập ra, tôi còn phải trải qua những bài rèn luyện sức khỏe và khả năng chịu đựng mà nhánh Biolism yêu cầu. Tất cả đều diễn ra trong một cái lồng kính với khả năng thay đổi các điều kiện bên trong nó, tôi được mặc một bộ áo bó sát, trái ngược so với y phục của một vị nữ tu và thực hành các bài tập theo yêu cầu của các vị Hầu Cận trước sự quan sát vủa họ. Mỗi bữa ăn tôi chỉ được ăn một loại hỗn hợp nhầy và đặc, chúng có mùi nồng rất khó nuốt.

Tôi làm theo và tập trung vào những điều họ chỉ dạy bởi vì kể cả tôi có xuôi theo họ hay giữ vững lý lẽ của Đền Thờ thì họ vẫn sẽ tiếp tục giảng dạy những điều đó cho tôi đến khi nào tôi chịu nghe và ghi nhớ những kiến thức đó. Không có bất kì sự lựa chọn nào khác ở đây. Đó là điều kiện cần trước khi được diện kiến Minerva.

Tôi đã dành ra hơn 5 năm 11 tháng 6 ngày để luyện tập, tiếp thu và làm quen với kiến thức, môi trường ở đây.
Cuối cùng, tôi đã chính thức vượt qua những bài kiểm tra của họ, các vị Hầu Cận đem đến cho tôi một con dao hoàng kim với những hoa văn và đường nét mà tôi từng thấy trên quả cầu thủy tinh năm đó. Họ nói với tôi: “Cô đã đủ điều kiện để được diện kiến Minerva. Trình độ kiến thức lẫn thể chất của cô đều đáp ứng đủ yêu cầu của Nữ thần…, con dao này là món quà mà bà ấy tặng cho cô, hãy giữ nó bên mình thật cẩn thận và chuẩn bị cho những điều tiếp theo bởi vì đây mới chỉ là khởi đầu…!”. Đây là những gì tôi được nghe trước ngày họ đưa tôi đến để diện kiến Minerva.

*
* *

Tôi sắp được diện kiến một vị thần ngoài đời thực, mặc dù những kiến thức tôi được học đã làm chính tôi nghi ngờ về một vị thần nhưng tôi sẽ không bỏ qua cơ hội đáng quý này.

Đại Tư Tế Freya và các nữ tu khác đều tự hào vì tôi được chọn, ít ra tôi cũng có thể làm họ hãnh diện.

Đúng 12h trưa của ngày thứ 7, các vị Hầu Cận tới và đưa tôi đến đại sảnh Pha Lê Đen trên đỉnh của Tòa Tháp Tối Cao, nơi đặt ngai vàng quyền lực của nữ thần Minerva.

Chúng tôi bước vào trong một chiếc đĩa kim loại để đi lên đỉnh tháp và tới trước cánh cửa lớn của đại sảnh Pha Lê Đen.

Cánh cửa lớn của đại sảnh được làm bằng bạch kim và gắn những viên kim cương lấp lánh. Có hai vị Hầu Cận khác đứng sắn ở đó và mở cánh cửa lớn ra, để lộ một con đường dẫn tôi vào bên trong đại sảnh.

Men theo con đường trải đầy kim cương, tôi đã đi đến nơi ngự trị của nữ thần. Đại sảnh tôi thấy còn rộng lớn hơn cả phạm vi của tòa tháp, những bức tường của đại sảnh được làm hoàn toàn bằng pha lê đen. Nơi cao nhất trong đại sảnh chính là Ngai Vàng khổng lồ của nữ thần. Phía trước Ngai Vàng là một hồ nước hoàng kim, một loại nước mà tôi chưa từng được gặp ở thế giới ngoài kia, nó tỏa ra hơi ấm và lấp lánh như những tia sáng của mặt trời vậy…

Từ dưới hồ, một người phụ nữ vĩ đại xuất hiện, bà ta đẹp, quyến rũ và quyền năng, những nguồn sức mạnh khổng lồ bao quanh thân thể thần thánh của bà ta, làn da của bà ấy tỏa ra một thứ ánh sáng tuyệt diệu. Trước mắt tôi lúc này chính là vị nữ thần của Sức Mạnh Và Năng Lượng – Minerva.

Tôi vội vàng quỳ gối trước vẻ thần thánh và quyền lực đó, tôi đọc to những lời cầu nguyện từng được dạy ở Đền Thờ, cố tỏ ra mình là một tín đồ sung kín và trung thành.

Nữ thần nhìn tôi một lúc lâu, ánh mắt của bà ấy chứa đầy sự quyền lực. Ngay khi bà ấy bước chân ra khỏi hồ nước hoàng kim, ánh hào quang và cơ thể của bà ấy thu lại dưới hình dạng tương đương tôi, nhưng bà ấy vẫn giữ được thần thái của một vị thần.

“Đứng lên con của ta! Ta là bạn của con!”, giọng bà ấy trầm ấm, pha lẫn chút thanh cao, quý phái. Bà ấy dùng đôi tay mượt mà của mình để đỡ tôi đứng lên. Tôi có thể thấy bà ấy đang cố tỏ ra thân thiện.

Giọng nói của tôi trở nên giống Freya mỗi lúc bà ấy cầu nguyện: “Ôi Nữ thần! Được diện kiến người là niềm vinh hạnh của con! Con đến đây cùng với tấm lòng thành và những lời cầu nguyện của các nữ tu tại Đền Thờ, cúi xin Người chứng giám cho lòng sùng kính của họ!”.

Bà ấy liếc mắt nhìn tôi và nói bằng một giọng xem thường: “Chúng thật mê muội khi quỳ lạy trước bức tượng đó mỗi ngày. Chúng nên biết rằng ta chưa từng xuất hiện ở đó hay nhận bất kì vật gì mà chúng dâng lên…”.

Chưa kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra, bà ấy đã lấy hai tay đặt lên má tôi và nói tiếp: “…Nhưng ở đó, nơi ta không ngờ tới nhất thì lại xuất hiện con, con của ta!”.

Đôi tay bà ấy vuốt nhẹ trên má tôi, những chiếc móng tay lướt nhẹ qua da của tôi trong khi bà ấy đang nói những lời khó hiểu: “Hãy nhìn con đi! Quả cầu đã tìm ra con trong hàng vạn người ngoài kia, con đang sở hữu những gì ta cần…, mã gen của con đáp ứng đủ những gì ta cần. Ta đã tìm kiếm một người như con trong suốt 830 năm qua rồi…”.

Minerva có thể nhận ra một sự sợ hãi đang bao phủ lên gương mặt và kéo dài suốt sống lưng của tôi… Chẳng lẽ tôi chỉ là một thứ nguyên liệu gì đó mà bà ta cần thôi sao? Mạng sống của tôi sẽ bị bà ta tước đi ngay bây giờ hay sao?

Bà ta dùng những lời để an ủi tôi nhưng đồng thời cũng ra lệnh cho tôi: “Con không cần phải lo lắng con gái của ta! Con là người được chọn, con có sứ mệnh cao cả hơn là bọn Hầu Cận và con sẽ kế thừa nó từ ta!”.

Sự sợ hãi trong tôi tăng dần lên, tôi bắt đầu hoang mang, miệng tôi nín bặt trước sự bí ẩn và ma mị trong từng câu nói của bà ta.

Bà ta tiếp tục nói những lời bí ẩn đó: “Lịch sử là một thứ giả dối, con của ta! Trong thế giới ngày nay Chúng Ta không cho phép nó tồn tại, lũ Historism đã bị khai tử từ rất lâu đến nỗi không một ai còn nhớ đến sự xuất hiện của chúng. Giờ đây tất cả những gì các người đọc trong những cuộn giấy đều là giả dối… Không có bất kì một vị thần nào, không có bất kì Minerva nào, kể cả là một cái danh hiệu…”.

Một màn kịch. Phải! Một màn kịch đã được hé lộ ra trước những lời nói của Minerva. Bà ta có thể không phải là một vị thần thực sự, có thể là một kẻ ăn cắp sức mạnh từ nơi nào đó và đã lừa dối cả thế giới.

“Từ hàng trăm nghìn năm trước, xa hơn cả sự xuất hiện của Kỷ Nguyên Ánh Sáng. Nhân loại đã đạt được những thành tựu vĩ đại, xây dựng nên những công trình to lớn. Một trong những thành tựu đó chính là… Năng Lượng Hạt Nhân, nó mạnh mẽ, to lớn, nó đem lại những lợi ích dồi dào cùng với sự phát triển vượt bậc cho hàng trăm, hàng ngàn thành phố rộng lớn và hiện đại thời bấy giờ…”, bà ta nhấn mạnh từng chữ trong khi đang nhìn tôi.

“Cả ngươi và ta đều biết, bất cứ thứ gì mang trong mình lợi ích to lớn đều làm trỗi dậy lòng tham và ham muốn độc chiếm của con người. Chỉ vì sự tham muốn của mình, họ đã gây ra bao cuộc chiến, vào những giờ phút đầu tiên của Định Mệnh, các lò chứa năng lượng đã phát nổ và gây rò rỉ hạt nhân ra toàn bộ Trái Đất này.
Hậu quả nó để lại rất thảm khốc, môi trường bị tàn phát nặng nề, mặt đất bị hủy diệt, nguồn nước trở nên độc hại, các sinh vật chết tràn lan, cơ thể của con người bị nhiếm nguồn năng lượng khiến họ bị biến đổi cả về thể chất lẫn tinh thần… Một số còn chẳng qua khỏi…”.

Bà ta bỗng dưng dừng lại những câu nói của mình. “Tháo nó ra!”, Minerva ra lệnh cho những người Hầu Cận đứng ở đó.

Họ lần lượt cởi bỏ chiếc mặt nạ mà họ đang đeo, khuôn mặt của họ bị biến dạng, méo mó như những kẻ bị bỏng nặng hay bị một vật va vào đầu đến nỗi biến dạng, tôi bàng hoàng và kinh ngạc trước những gì mà tôi đang nhìn.

Minerva quay sang tôi và nói: “Ngươi nên cảm thấy may mắn khi là những thế hệ sinh sau đẻ muộn, các ngươi không trực tiếp tham gia vào sự kiện đó. Họ, những kẻ vô tội đang phải chịu những đột biến vĩnh viễn mà tổ tiên chúng để lại khi đã trực tiếp góp phần vào việc chế tạo nên nguồn năng lượng đấy… Đôi khi làm một người bình thường cũng thật thích phải không?”.

Bà ta tiếp tục câu chuyện còn đang dang dở: “Trong số hàng tỉ người phải chịu đựng cái chết hay bị biến dạng mãi mãi về sau, một số khác thì may mắn hơn khi qua bao thế hệ cuối cùng cũng đã đào thải được những đột biến cùng toàn bộ phóng xa ra ngoài, đó chính là những kẻ đang ăn sung mặc sướng ngoài kia, những kẻ như ngươi.

Chỉ có chín người chúng ta, chín người sở hữu những Mã Gen Đặc Biệt đã may mắn thích nghi được với nguồn phóng xạ. Điều này giúp chúng ta sống sót nhưng đồng thời nó cũng khai mở ra các tiềm năng mà não bộ cùng các cơ quan khác của chúng ta chưa từng chạm tới. Lần đầu tiên trong đời, ta có thể cảm nhận được từng cảm giác trong từng tế bào, ta có thể làm được nhiều khả năng đặc biệt hơn nữa, dòng năng lượng hạt nhân bắt đầu chảy trong ta và trở thành một thứ sức mạnh, một quyền năng tối cao chỉ có trong truyền thuyết, nó thậm chí còn kéo dài tuổi thọ của ta đến vài nghìn năm…

Chín người chúng ta đã quyết định hợp sức lại và thay đổi thế giới. Dưới quyền cai trị của Chúng Ta, các thành phố đã được xây dựng lại, nhưng chúng ta đã quyết định che dấu lịch sử, che dấu tất cả những kiến thức khỏi nhân loại. Tất cả đều bị hai chữ phép thuật lừa dối và con người thì tôn thờ chúng ta như những vị thần…”.
Bà ta vừa nói vừa rút một chiếc nhẫn hoàng kim đang đeo trên tay phải của mình ra: “Nhưng cái gì cũng có giới hạn của nó, đặc biệt là tuổi thọ của con người. Nó có thể dài cả nghìn năm nhưng sẽ không thể là mãi mãi, tất cả các tế bào rồi cũng sẽ bị phóng xạ làm cho tan biến… Ta vẫn luôn phải ngâm mình trong làn nước phóng xạ kia để duy trì sắc đẹp của mình.”

Bỗng nhiên những ngón tay của tôi bị một lực vô hình điều khiển, chắc chắn Minerva đã làm điều này, chiếc nhẫn được đeo vào ngón trỏ của tôi trong chốc lát. Một luồng điện từ chiếc nhẫn giải phóng vào trong tôi và chạy đến phần não, thứ ánh sáng trắng hiện ra trước mắt tôi kèm theo những hình ảnh của quá khứ.

Ở đó, tôi nhìn thấy những lò phản ứng khổng lồ ngang bằng những ngọn núi, một vụ nổ đã xảy ra, tất cả đều bị tàn phá… Tôi nhìn thấy hình ảnh một người phụ nữ với những quyền năng khủng khiếp mà bà ấy có thể làm bao gồm cả cải tạo thế giới. Bà ta cùng một người phụ nữ trẻ khác đang ở trong một chiếc máy khổng lồ, tôi có thể thấy bà ấy đang chịu sự héo mòn của tuổi tác, một luồng ánh sáng xuất hiện và dịch chuyển toàn bộ nguồn sức mạnh cùng với ý thức, suy nghĩ của bà ấy sang người phụ nữ trẻ kia. Một thân thể mới cho bà ấy đã được thiết lập, một vòng tuần hoàn mới bắt đầu và cứ như thế cho đến tận bây giờ…

Những hình ảnh này xuất hiện trong tôi quá nhiều và nó làm tôi gục xuống vì đau đầu một cách điên đảo. Tôi cố tháo chiếc nhẫn ra nhưng dường như nó đã dính chặt vào ngón tay tôi.

“Ta biết nó hơi choáng, chiếc nhẫn được tạo ra để chứa đựng và bảo quản các nơ-ron thần kinh lưu giữ những kí ức về cả một thời kì suốt hàng chục nghìn năm. Nó sẽ cho ngươi thấy những điều xảy ra trong quá khứ, những sự thật mà thế giới ngoài kia không bao giờ biết.”, Minerva nói với tôi.

Bây giờ tôi đã biết được lý do vì sao mình ở đây. Bà ta không cần tôi, vì một lý do gì đó mà cơ thể tôi có cấu trúc gen đặc biệt có thể thích nghi được với nguồn năng lượng hạt nhân như bà ấy vậy nên cơ thể tôi mới chính là thứ bà ta cần. Bà ta cần nó để có thể tiếp tục một cuộc sống mới, tiếp tục trị vì, tiếp tục duy trì những lời dối trá và che giấu tri thức khỏi mọi người.

Cả nhân loại đã bị màn kịch của họ che dấu suốt hơn mười nghìn năm qua. Đức tin của con người đã bị họ chơi đùa, họ không xứng đáng bị thế.

“Các người là kẻ dối trá, tri thức đã bị các người che dấu khỏi nhân loại. Đây chưa bao giờ là Kỷ Nguyên Ánh Sáng và bà sẽ không bao giờ có được thân xác của tôi.”, tôi cố gắng gượng dậy và nói với bà ta.

Minerva lộ rõ vẻ thất vọng, bà ta nghiêng đầu thở dài trước mặt tôi. Chỉ bằng một ánh nhìn, cơ thể tôi đã bị nhấc bổng lên trong không trung và bị ép dính chặt vào bức tường Pha Lê Đen.

Bà ta nói bằng một giọng đầy quỷ quyệt: “Ta biết việc này khó có thể chấp nhận nhưng ngươi nên cảm thấy vinh dự vì cơ thể của ngươi sắp trở thành một hình tượng vĩ đại đó. Sớm thôi, ta sẽ thế chỗ ngươi…!”.

Bà ta đưa cơ thể tôi lại gần bà ấy, một cỗ máy từ trên trần của của đại sảnh Pha Lê Đen hạ xuống, cả tôi và bà ấy đều đã ở bên trong một chiếc lồng của cỗ máy. Mọi thứ bắt đầu hoạt động, thứ năng lượng tách ra khỏi người bà ấy và dần dần chuyển sang tôi, cả cơ thể tôi bị ngập trong thứ năng lượng này, tôi khó thở, tôi cảm thấy nóng rát.

Mỗi giây trôi qua bà ta càng gần với tôi hơn, bà ta nói bằng một giọng đắc chí: “Thân xác ngươi là của ta!”.
Tôi muốn thoát khỏi điều này, tôi biết mình phải làm gì đó, ý chí tự do của tôi bắt đầu trỗi dậy, bằng chút sức lực cuối cùng tôi nhắm mắt thét lên: “Không…!”. Minerva hét lên đầy đau đớn, tôi mở mắt ra và thấy mình đã đâm bà ta bằng chính món quà bà ấy tặng, con dao hoàng kim đang găm thẳng vào lồng ngực của bà ấy.

Trong cơn đau đớn điên cuồng bà ta đẩy tôi văng ra khỏi chiếc lồng và phá hỏng cỗ máy. Nguồn năng lượng còn lại trong bà ta rò rỉ ra khỏi vết thương, con dao đã làm hỏng cấu trúc cơ thể bà ấy, bà ta không thể nào khống chế được nguồn phóng xạ. Từng tế bào trên cở thể bà ấy đang bị phân rã, cả cơ thể của bà ta nhuộm bởi ánh sáng màu vàng rực.

Bà ta chỉ kịp gào lên: “Ta nguyền rủa ngươi…!” trước khi bị tan biến trong đau đớn.

Một vụ nổ phóng xạ đã xảy ra làm đỉnh Tòa Tháp Tối Cao vỡ tan thành từng mảnh, những tia sáng phóng ra tứ phía kèm theo khói và bụi trước sự ngỡ ngàng của những người dân Vamia. Vụ nổ cũng đã làm cho các Hầu Cận bị thương nặng.

Tôi nằm ở rìa của tòa tháp, tự cảm thấy may mắn khi đã không bị rơi xuống. Tôi cố gắng đứng dậy, mặt tôi dính đầy bụi bặm, bộ dạng tôi hiện tại thật thảm khốc. Tôi dám cá rằng những Kẻ Giả Tạo khác đã nhìn thấy vụ nổ vừa rồi và chắc rằng họ biết chuyện gì vừa xảy ra. Liệu hành động tiếp theo của họ là gì?

Từ trên cao nhìn xuống Vamia, tất cả mọi người đang tập trung lại trước Tòa Tháp, những tiếng ồn là thứ duy nhất tôi nghe thấy. Tôi băn khoăn về việc sẽ kể lại câu chuyện này cho họ thế nào. Liệu họ sẽ tin vào những điều tôi nói chứ, họ sẽ chấp nhận sự thật hay vẫn sẽ đắm chìm trong những lời giả dối của những Kẻ Giả Tạo. Liệu họ có coi tôi như một người đem lại tri thức hay họ cùng với Đại Tư Tế Freya và các nữ tu khác sẽ khép tôi vào nghịch tội và xử tử tôi, bêu rếu tên tôi trên mọi con đường như một Kẻ Phản Thần…

HẾT

*LƯU Ý:

  • Điểm truyền thông: chiếm 40% tổng điểm, được tính dựa trên lượt react, comment và share của Bài Dự thi. Bài Dự thi hoàn thành sớm sẽ có quyền lợi về điểm truyền thông.
  • CÁCH THỨC TÍNH ĐIỂM: (Chỉ tính điểm khi đã like page)
  1. Like: 1 điểm/lượt
  2. Các cảm xúc khác: 2 điểm/lượt
  3. Share chế độ công khai (Public): 3 điểm/lượt
  4. Like (đối với bài viết trên website): 2 điểm/lượt
  • Thời gian đóng cổng bình chọn: 23h59′ ngày 11/08/2020
  • Ban Tổ chức không chịu trách nhiệm về tính chính xác của kiến thức thức khoa học được sử dụng trong Bài Dự thi.

[BÀI DỰ THI LE SPECTRE #3: TAM GIÁC QUỶ BERMUDA]

Tác giả: Nguyễn Minh Hoàng
Lớp – Trường: 19DTLA2- Đại Học Công Nghệ Hồ Chí Minh- Hutech

Từ bao lâu nay, tam giác quỷ Bermuda luôn là cơn ác mộng lẫn câu đố lớn của toàn nhân loại. Chưa có một nhà bác học kiệt xuất hay một thám tử đại tài nào tìm ra lời giải cho “câu đố nhân sư” này. Rốt cuộc những người đi qua tam giác quỷ vì sao lại mất tích một cách đầy bí hiểm? Rốt cuộc bức điện vô tuyến cuối cùng phát ra từ tàu chở hàng Nhật Raifuku Maru: “Nguy hiểm như lưỡi dao, hãy đến nhanh, chúng tôi không còn chạy trốn được nữa” có nghĩa là gì? Và rốt cuộc báo cáo cuối cùng của phi công trên chiếc máy bay xấu số: “Chúng tôi đang đi vào một vùng nước trắng, mọi chuyện có vẻ không ổn. Chúng tôi không biết mình đang ở đâu, nước biển có màu xanh lá cây, à không, màu trắng” ẩn chứa sự thật gì? Không ai biết cả, nhân loại đều đau đầu và khiếp sợ tam giác quỷ. Nhưng khi ta đi vào nơi làm con người ta khiếp sợ nhất thì ta sẽ luôn tìm được một số ít những người dũng cảm nhất.

Ngày hai mươi bảy tháng một năm hai nghìn không trăm hai mươi. Hai mươi bảy nhà khoa học kiệt xuất nhất Thuỵ Điển đã quyết định ra khơi tiến về tam giác quỷ những mong tìm ra sự thật mà tam giác quỷ đã ma mãnh che giấu hàng thế kỷ qua khỏi con mắt hiếu kỳ của nhân loại. Sau mười hai ngày lênh đênh trên biên cả hung hãn họ đã ở trên tam giác quỷ Bermuda. Và tất nhiên tam giác quỷ đúng như cái tên của nó- còn hung hãn, khốc liệt hơn bão tố trên vùng biển mà họ đã vượt qua. Định mệnh khốc liệt hay vinh quang vô hạn đang chờ đón họ? Liệu họ có sống sót mà thoát ra khỏi tam giác quỷ và tìm ra sự thật vô giá mà bao nhiêu người dù phải đánh đổi tính mạng cũng không tìm được hay họ sẽ biến mất không dấu vết như bao con người kiệt xuất và dũng cảm khác nuôi khát vọng khám phá tam giác quỷ để rồi vĩnh viễn không thể trở về quê hương, xứ sở? Thật khó nói trước, nhưng chắc chắn một điều, đã sợ thì không phải hào kiệt, đã là hào kiệt thì ắt không sợ.

Khi đến tam giác quỷ, đột nhiên tất cả đồng hồ của nhóm nghiên cứu đều chậm ba mươi phút. Bầu trời đột nhiên đen kịt, la bàn không hoạt động. Nước biển trắng toát như nước mắt quỷ. Những cơn gió từ bốn hướng đồng loạt thổi vù vù. Chúng lạnh lẽo và điên cuồng như thần gió bắc Boreas. Ngay dưới mũi tàu hình thành một xoáy nước. Xoáy nước kêu òng ọc như tiếng quỷ dữ nguyền rủa. Viên thuyền trưởng thét lên inh tai:
_Tất cả bám chặt vào thuyền, cẩn thận kẻo rơi xuống nước, thề có chúa chúng ta sẽ vượt qua xoáy nước này. Xoáy nước ngày càng dằn dữ, bầu trời càng lúc càng tối hơn nữa, những cơn gió điên cuồng như muốn xé nát con tàu khốn khổ ra.

Thuyền trưởng ngoan cường như một chiến binh chiến đấu với sức mạnh kinh hồn bạt vía của thiên nhiên. Ông nắm chặt bánh lái như viên tướng dũng mãnh nắm chặt thanh trường kiếm. Ông hô to cho tất cả mọi người trên thuyền nghe rõ, giọng vừa oai hùng vừa lạc quan:
_Móng vuốt ác quỷ nơi tam giác quỷ không giết được chúng ta đâu. Khi về tất cả các bạn sẽ được vinh danh nơi quảng trường danh vọng của thời đại. Cả thế giới sẽ biết đến tên tuổi các bạn vì các bạn được sinh ra trong chính giấc mơ của mình còn tôi sẽ được ăn tối cùng vợ tôi ở nhà hàng sang trọng nhất Chicago. Chao ôi! Cà phê ở đó ngon lắm.

Bây giờ không biết là bao nhiêu giờ vì đồng hồ nhảy số liên tục, kỳ lạ là con số liên tiếp thụt lùi. Nhóm trưởng nhóm nghiên cứu khoa học, Benjamin Ferud nói trong sự ngỡ ngàng:
_Chẳng lẽ giả thuyết về sự biến động của nhân trái đất là đúng sao? Nếu bí ẩn về tam giác quỷ Bermuda đúng với giả thuyết của Corocoavicov thì chỉ cần trụ vững đủ lâu thì nguy hiểm sẽ qua đi, chúng ta sẽ sống.
Thuyền trưởng con tàu đang vật lộn với ác thần thiên nhiên nhưng ông không quên nở nụ cười trên môi, Ông ngoái đầu lại phía sau và quả quyết:
_Vậy thì cứ tin ở tôi, chúng ta sẽ sống!

Phải chăng sự dũng cảm vô song của viên thuyền trưởng và các nhà nghiên cứu khoa học đã làm cảm động trời xanh. Sau một hồi đặt tính mạng lên bàn cân sinh tử, thiên nhiên đã dịu cơn thịnh nộ. Thuyền trưởng và mọi người hô to: “Sống rồi, thành công rồi!”.

Thêm mười hai ngày sương gió nữa. Thuyền về đến đất Thuỵ Điển. Một tháng sau, hai mươi bảy nhà khoa học kiệt xuất công bố kết quả nghiên cứu khoa học của họ: Những tai nạn đáng sợ trên tam giác quỷ Bermuda liên quan đến việc thay đổi chu trình thời gian, chiều thứ tự. Nhân trái đất không nằm ở trung tâm địa cầu mà dưới tác động lực hấp dẫn Của mặt trởi, mặt trăng và các hành tinh khác, nhân trái đất bị kéo về phía chúng. Khi quay nhân dường như “lăn” phía dưới lớp vỏ, gây ra dòng ngược của macma nằm giữa chúng và như một hệ quả, xuất hiện trường điện từ. Ngoài ra do lực quay của hành tinh nghiêng nên nhân đi lên, đi xuống, mùa hè ở Bắc Bán Cầu, mùa đông ở Nam Bán Cầu. Lòng dẫn của macma nằm ở chính đây. Thời gian qua đi, nhân đập vào vỏ, gây ra chuyển động của lục địa, sự trôi dạt của các cực từ trường và sự phun của núi lửa. Xích đạo của nhân trái đất ở vỹ tuyến 28, chính trên chiều rộng này, thiên nhiên đã giăng những cái bẫy bí ẩn của mình: năm bẫy về phía bắc xích đạo, năm bẫy về phía nam. Nếu kết nối chúng một cách tưởng tượng bằng năm đường thẳng ta sẽ có hai ngũ giác đều. Ở các đỉnh của ngũ giác là những chiếc bẫy này, nơi các con tàu và máy bay biến mất không dấu vết, nơi có những con tàu không có thuỷ thủ đoàn hoặc họ bị chết hết trong khoang. Một trong những cái bẫy này là tam giác quỷ Bermuda.

Kết quả công bố ra cả thế giới sững sờ, kinh ngạc và từ đây, cả thời đại lẫn thế giới sẽ không bao giờ quên viên thuyền trưởng cùng hai mươi bảy nhà nghiên cứu can trường và kiệt xuất đã chơi ván cờ sinh tử với tự nhiên gian mãnh để cả nhân loại giải được câu đố Bermuda.

*LƯU Ý:

  • Điểm truyền thông: chiếm 40% tổng điểm, được tính dựa trên lượt react, comment và share của Bài Dự thi. Bài Dự thi hoàn thành sớm sẽ có quyền lợi về điểm truyền thông.
  • CÁCH THỨC TÍNH ĐIỂM: (Chỉ tính điểm khi đã like page)
  1. Like: 1 điểm/lượt
  2. Các cảm xúc khác: 2 điểm/lượt
  3. Share chế độ công khai (Public): 3 điểm/lượt
  4. Like (đối với bài viết trên website): 2 điểm/lượt
  • Thời gian đóng cổng bình chọn: 23h59′ ngày 11/08/2020
  • Ban Tổ chức không chịu trách nhiệm về tính chính xác của kiến thức thức khoa học được sử dụng trong Bài Dự thi.

[BÀI DỰ THI LE SPECTRE #1: NGỦ ĐÔNG]

Tác giả: Phạm Thị Thúy Quỳnh
Lớp – Trường: Đại học Văn Hóa Hà Nội

1.
Gã xỏ dép và bước vào phòng tắm, sau khi vệ sinh cá nhân, gã vặn vòi hoa sen. Nước xối xuống vai, cánh tay và bắp chân, gã bắt đầu kỳ cọ một cách kỹ càng. Dù rằng giờ đây cho dù gã có dành cả năm không tắm thì cũng chẳng có ai để ý, song gã vẫn làm quy trình này hằng ngày. Nó là một nghi thức, một nhu cầu, để gã biết mình còn kết nối với con người.
Xong xuôi, gã khép cửa nhà, băng qua bên kia đường để tới “kho ngủ đông”. Trên tường, con thạch sùng tặc lưỡi sau khi vồ được một chú muỗi bé bằng đầu tăm, cái miệng rộng của nó ngậm chặt lấy con mồi sau đó lẩn vào kẽ tủ, nhưng vẫn thò cái đầu bé tí ra nhìn gã lom lom, một lát sau nó mới lủi đi mất.
Mặc quần áo bảo hộ, gã tiến vào từng khoang, mặc dù điện sáng rực nhưng tay gã vẫn cầm đèn pin để kiểm tra các chùm dây lằng nhằng xanh đỏ bên dưới. Mười năm qua, công việc của gã cứ lặp đi lặp lại như vậy, giống một con quay có quỹ đạo ổn định. Hai năm sau khi nhận việc, gã cảm thấy nhàm chán và bắt đầu nói chuyện với từng khuôn mặt mờ phía sau tấm thủy tinh chứa màn khí lạnh. Gã kể rất nhiều điều, về cánh rừng đã mất ở quê hương, về tháng ngày khát cháy cổ mà không tìm được một giọt nước, về những con vật đang sinh sôi nảy nở phía bên kia hàng rào, về hệ thống rừng rậm dần dần hồi phục, về cảm nghĩ của mình khi gặp các ánh mắt từng đối diện khi họ chưa “ngủ”.
Loáng thoáng thấy bóng hình mình lướt đi qua các mặt kính, gã rờ lên khuôn mặt, vẫn chưa hề xuất hiện nếp nhăn hay dấu hiệu lão hóa.
Ngày ấy, trước lúc tiến vào trong phòng thủ thuật, bố đã hỏi rằng gã có hối hận khi ở lại không. Gã vừa ký vào đơn xác nhận vừa đáp, rằng có.
“Làm sao con sống được một mình.”
“Bao năm qua con vẫn sống một mình mà”
Văng vẳng tiếng bật cười của quá khứ. Bố gã từng là một người cha tốt nhưng cái chết của vợ đã khiến ông sụp đổ. Mẹ gã rất đẹp, bà thường nhốt mình trong phòng đọc sách, mê mải với thế giới riêng. Sau này, gã không còn tìm được bất kỳ ai giống bà nữa. Mẹ gã bị suy tim khi còn trẻ, đến lúc lấy chồng sinh con vẫn cố gắng giữ gìn bản thân. Năm lên tám, gã âm thầm vẽ một chiếc mặt nạ cho lễ hóa trang ở trường. Những tấm mặt nạ ngày càng giống thật, đến mức sau khi đeo lên, gã không biết mình là quỷ hay là người.
Sau khi xây nhà, mẹ gã chọn sơn màu trắng, ánh sáng không mời mà đến ngập khắp mọi nơi. Hôm ấy trời nắng to, gã đeo mặt nạ, trốn ở góc tường, định bụng chờ mẹ đi qua thì tạo cho bà một sự bất ngờ. Bước chân của bà vang lên từ phía đầu cầu thang, gã háo hức chờ đợi, chân tay luống cuống. Trước nay bố luôn không cho gã ở bên mẹ quá lâu, vì sợ bà sẽ mệt. Nhưng một tối, mẹ than rằng nhà đã hết sách mới để đọc rồi nên bà muốn đi ra phố sách, bố phản đối: “Ngoài đấy vừa bụi lại vừa đông, để anh đi cho, em cứ ở nhà nghỉ đi.”
Mẹ gã – đã quen với tính cách của chồng, ghi xuống giấy những tiêu đề sách mà mình cần, ngoài ra còn thêm vào đó một số dụng cụ và thực phẩm khác. Bố gã uống vội cốc cà phê, dành cho vợ một nụ hôn tạm biệt và rời đi. Đó là lần cuối cùng bố hôn mẹ và ngược lại, sau này gã đã nghĩ vậy. Nụ hôn đi theo mẹ trong suốt con đường luân hồi tiếp theo, biết đâu nó sẽ trở thành vật chứng thực cho cuộc tình của họ ở kiếp sau nếu tồn tại một thứ chuyển sinh sau cái chết.
Trở lại với chiếc mặt nạ, phải, gã đeo nó và dường như nó ăn nhập hoàn toàn với khuôn mặt gã khi ấy. Ánh nắng rọi vào chân, gã vội rụt lại trốn nắng, nắng sẽ khiến cho cái bóng của gã hằn rõ trên tường, nắng sẽ khiến trò đùa của gã bị đánh bại. Chân mẹ rất nhỏ, bước chân cũng vậy, tiếng bà đi lại như tiếng chân con mèo hoa dò trên bờ tường.
Gã nhào ra: “Ta là ma đây!”
Bóng của gã hiện rõ rồi, cái bóng bé con với những ngón tay xòe ra như móng vuốt.
Sát na, gã không còn cảm nhận được bất kỳ điều gì, chỉ thấy mặt mẹ tái nhợt, mắt bà trợn tròn lên và môi tím dần, bà ngã xuống, giỏ mây đựng quần áo bẩn lăn lông lốc làm tung ra mấy chiếc áo ngắn nom tựa các thi thể cụt què.
Gã của năm tám tuổi đứng trân trân nhìn mẹ mình nằm trên sàn nhà lạnh ngắt, hơi thở của bà đứt quãng, ánh mắt bà nhìn gã dần trở nên dịu dàng và cuối cùng khép lại với thế giới, khép lại với ánh nắng dần tắt. Gã lê gối đến bên bà, nhấc bà lên, nhưng cơ thể bà mềm oặt sau đó dần cứng lại như súc gỗ, bà rất lạnh. Gã ôm lấy mẹ.
Và gã bật cười, chưa bao giờ gã cảm thấy thoải mái đến vậy, chưa bao giờ gã cảm thấy gần mẹ mình tới vậy kể từ khi sinh ra, gã vùi vào ngực bà. Bóng đêm trùm lấy căn nhà từng ngập nắng, có tiếng xe đỗ lại ngoài cổng, bố gã đẩy cửa vào nhà, hỏi: “Sao không ai bật điện lên thế này? Hai mẹ con đi ngủ rồi à?”
“Tách”, đèn bật sáng, gã nhìn mẹ, trông bà chỉ như đang thiếp đi mà thôi.
Sau đó, đám tang đã nuốt chửng lấy bố. Dường như ông không hề hay biết con trai mình là người đã gây ra cái chết của mẹ, nên ngoài việc làm bạn với thuốc an thần và rượu bia, ông vẫn cố gắng làm tròn vai trò người cha.
Bắt đầu từ năm tám tuổi, gã thường xuyên nhìn thấy mẹ ở mọi nơi trong nhà: phòng tắm, phòng khách, dưới bếp, ngoài vườn, trên sân thượng. Thậm chí ngay cả khi lúc đi ngủ, gã cũng thấy mẹ đứng trước cửa phòng, mỉm cười với mình. Trong mơ, bố cầm dao đuổi theo sau gã, nét mặt hằn vẻ dữ tợn, gã nhanh chóng bị bắt lại, hung khí trên tay bố dí xuống ngày một sát hơn, và đột nhiên, gã thấy ông đang đeo chính chiếc mặt nạ của mình.
Nếu không rời khỏi đó, chắc chắn tôi sẽ phát điên, gã nói.
Vào cấp hai, gã mở lời xin bố cho mình vào học trong một trường nội trú. Ông không do dự khi nói đồng ý, nhưng vào ngày tiễn gã nhập học, ông đột nhiên buông một câu: Con càng ngày càng giống mẹ.
Và rồi, gã thấy mẹ đi theo mình tới trường, vào ký túc xá. Bà không trách mắng gã, chỉ dõi theo và ngồi cạnh mỗi khi gã gặp ác mộng. Bà ngồi trên băng ghế xem gã thi thể chất tại sân vận động, bà ngồi bên bậu cửa sổ phòng ngủ, và im lặng. Dần dà, gã phát hiện ra rằng khi tới tuổi dậy thì, khuôn mặt mình trở nên nhang nhác với mẹ, thậm chí gã từng bị đám bạn học quấy rối một đôi lần.
Gã bần thần nhìn vào mình thông qua sự đóng băng của người khác, hơi lạnh phủ kín, choán lấy tầm mắt, choán lấy cả gương mặt.
2.
Ánh nắng rải xuống mặt đường lấm tấm những cây rau sam chua, một con tắc kè bò ra phơi mình. Đôi khi một số loài vật bé nhỏ vẫn lẩn qua được rào chắn để vào thành phố, chúng không gây hại cho nên đội canh gác vẫn làm ngơ.
Khi con người tạm ngừng hoạt động, đến cả dịch bệnh cũng bị khóa lại ngoài kia, nói đúng hơn, mầm bệnh đều đã bị đẩy ra khỏi vũ trụ. An toàn đến nhàm chán, gã nói.
Cách đây hai mươi năm, các nhà khoa học trên khắp thế giới đã đưa ra yêu sách về môi trường khi hệ thống thực vật, động vật đang dần mất đa dạng và nhiệt độ trái đất tăng cao, rằng loài người phải tìm cách ngừng hoạt động trong vòng hai mươi năm để chúng có thể dần dần khôi phục lại. Biện pháp duy nhất bấy giờ là đông lạnh. Khi ấy, gã mới lên hai.
Biểu tình diễn ra khắp nơi, hết thảy đều lên án về bản kế hoạch đó. Tuy nhiên, đột ngột một ngày nọ, một bản tin được chiếu ngay tại quảng trường về vụ sát hại hơn hai mươi nhà khoa học đang nghiên cứu về quá trình cấp đông sinh vật sống, hơn hết, nó đã được đưa đến khắp mọi nơi trên thế giới, kéo theo sự vào cuộc của cánh báo chí đang khát tin bấy giờ. Hệ thống máy móc được đưa lên các mặt báo, các kênh truyền hình, mạng xã hội kèm với những cuộc thí nghiệm thành công trên cơ thể tình nguyện viên.
Như giọt nước tràn li, chiều hướng dư luận bắt đầu thay đổi, đầu tiên những người mất mạng đang bị phỉ nhổ được tôn lên làm anh hùng, một thời gian sau, mọi người bắt đầu ký vào đơn xin được “ngủ đông”, số lượng lớn những người không tình nguyện mạo hiểm tính mạng mình biến thành “kẻ chăm sóc”, nói đúng hơn là được đào tạo thành kỹ thuật viên chuyên bảo trì máy móc thuộc hệ thống nằm trên toàn cầu, đồng thời bảo vệ đồng loại khỏi nguy cơ từ động vật đang dần nắm lại thiên nhiên tràn vào thành phố dù cho các hàng rào điện tử đã được xây dựng một cách vững chãi.
“Kế hoạch ngủ đông” đã phải trải qua quá trình nghiên cứu và hoàn thiện hơn ba mươi năm, nếu chưa kể tới mầm mống manh nha trước đó nhiều thập kỷ – Gã nói – Để tránh sự diệt vong cận kề, loài người cần phải làm điều này.
Gã bật công tắc khóa cửa kho, đồng thời bật chiếc ghế điện lên. Ngồi xuống, gã bắt đầu đốt thuốc, nheo mắt nhìn về phía bầu trời vương màu xám nhạt, có vẻ như tối nay sẽ mưa. Ở phía đối diện, y cũng đang gà gật bên băng ghế, gã chưa bao giờ hỏi tên của y và họ cũng chưa từng nói chuyện với nhau. Giờ đây, lời nói đã được thay bằng ánh mắt, những nụ cười nhẹ và những cái gật đầu ẩn ý. Gã lôi cuốn sách bỏ túi ra, bắt đầu đọc to các dòng văn trong đó. Nó là một câu chuyện đã cũ, viết cách đây hơn hai trăm năm, về hành trình của một con dế mèn và sự trưởng thành của nó. Các tác giả của những cuốn sách mà gã có đã lùi vào dĩ vãng, chỉ còn tác phẩm ở lại. Giọng của gã đều đều vang lên, nếu không làm thế, gã sợ mình sẽ quên mất cách nói chuyện, sẽ trở nên câm lặng khi thế giới trở về với guồng quay tự nhiên.
Gã quên mất rằng mình nên giới thiệu về y. Đó là một người trạc tuổi gã, dường như đến từ một thành phố khác. Nhưng có hề chi khi tất cả các thành phố ở thời đại này đều giống nhau, sau này y đã nói vậy. Gã cũng cảm thấy điều đó là đúng, trật tự thế giới mới đã đưa toàn bộ kiến trúc vào một khuôn nhất định, điều này sẽ khiến bạn đỡ đi lạc tại nơi mà mình sinh ra, cũng sẽ không bị lạc nếu tới một nơi khác, dần dà vì thế mà chẳng còn mấy người đi du lịch nữa – nhất là sau khi một số đại kỳ quan dần biến mất bởi sự khắc nghiệt của thời tiết.
Khi chuẩn bị chiến dịch ngủ đông, gã từng thấy y đi trên đường, lẫn vào đám đông, y ngoác miệng ra ngáp một cái rõ to, không chỉ ngáp mà trong cổ họng còn phát ra âm thanh ồ ồ khiến mọi người đều phải ngoái đầu nhìn lại. Dường như y không hề ngượng ngùng, thấy vậy chỉ đi thẳng. Gã nhìn thấy y làm điều đó mấy lần và nhận ra một điểm chung, ấy là y chỉ làm thế ở chốn đông người. Đó là một dạng quấy rối, gã nói, trong lòng thấy không mấy thiện cảm.
Sau này, khi thành phố dần vắng lặng, y đã thôi không làm trò nữa, chỉ nằm vật ra giữa đường để cho đám kiến bò qua người hoặc giả ngồi bất động mà chẳng làm gì cả, mỗi lúc ngáp y còn vội vàng che miệng lại. Chẳng có ai nhìn ngó, chỉ trỏ, y thành ra lại tế nhị với chính mình.
Sau này, khi thành phố dần vắng lặng, gã đã bắt chuyện với y. Gã bảo, suy cho cùng thì đây sẽ là người duy nhất ở gần mình trong suốt mấy chục năm, gã muốn sống một mình nhưng lại sợ cô độc.
“Đến cùng thì ở đây chỉ còn tôi và anh, nên là…” Gã bỏ lửng câu nói.
Y nhìn gã, chẳng đáp, đoạn giơ gói thuốc lá ra. Gã cười cười đón lấy, Vina 2190, của hiếm đấy. Y bảo, vẫn nặng hóa chất lắm, rồi liếc qua bìa sách, ở nhà tôi cũng có một cuốn này, là bản năm 2002, nó chỉ còn một phần, khi tôi tìm được thì mối mọt đều oanh tạc non nửa.
Gã bảo rằng y có thể tới nhà mình, ở đó y có một phòng đọc sách riêng biệt với vô vàn đầu sách mà rất có thể đọc cả đời chẳng hết. Công việc chẳng qua cũng chỉ đến thế: kiểm tra hệ thống điện xem có con vật nào mò vào đống dây nhợ lằng nhằng hay có tủ đông nào phát sinh ra vấn đề liên quan tới nhiệt độ không, xong xuôi thì gã chỉ đành tiêu tốn thời giờ của mình vào những cuốn sách hoặc đi dạo loanh quanh bởi điện năng chỉ được dùng tối thiểu nhằm tập trung phục vụ cho chiến dịch ngủ đông. Gã chẳng thể tìm được gì khác để tiêu khiển.
Y kể lại: Tôi không có bố, mẹ tôi chưa từng nhắc tới người đàn ông này, bà nuôi lớn tôi trong một căn nhà ở bên rừng, ở đó bà trồng rất nhiều rau quả và hoa hướng dương. Bà nói mình thích hướng dương, vì nó có thể dẫn người lạc đường tìm thấy mặt trời. Tôi không hiểu những gì mẹ nói. Mẹ tôi thường dẫn tôi vào trong rừng sâu, nơi có một dòng suối gần như cạn kiệt, mà nói đúng hơn nó chỉ còn là một cái lạch nước. Bà xếp những viên đá thành bếp, rửa sạch một phiến đá mỏng khác, đun nó trên than đỏ, sau đó bà nướng thịt đã ướp sẵn lên. Mùi hương của thịt nướng lan tỏa khắp không gian, xa xa có một con chó nhỏ đang lấp ló, nó là chó hoang, tôi có thể nhận ra qua vẻ bề ngoài. Lúc ấy tôi đã hỏi mẹ rằng, bây giờ vẫn còn chó hoang sao? Mẹ bảo, thời nào cũng có những con vật hoang như thế, thật may vì chúng vẫn thoát khỏi sự quản thúc của con người. Lúc đó tôi nhớ tới hình ảnh của lũ thú cưng béo mầm trong thành phố, chúng có thể phơi nắng cả ngày, đôi lúc sẽ ngẩng đầu nhìn người qua đường song vì trọng lượng cơ thể nên chỉ đành nằm đó, chúng di chuyển nhờ vào chủ nhân.
– Trong đôi mắt chúng… – Y nói – Tôi thấy được sự chán chường, bất lực. Sống ở rừng lâu ngày, tôi biết rằng chúng thuộc về thế giới ngoài kia, nơi ngập tràn cỏ xanh và bụi rậm, không ngừng làm chủ lãnh địa, không ngừng chiến đấu, chúng có thể sẽ chết nhưng chí ít chúng cũng được sống mà không phải là tồn tại.
– Mẹ anh giờ ở khu nào? – Gã hỏi.
Y đột nhiên khẽ lắc đầu:
– Mẹ tôi mất rồi. Bà là một trong những nhà khoa học bị sát hại năm đó, bà và đồng nghiệp đã tìm mọi cách để cứu giúp đồng loại của mình… Mặc dù hiện tại nghiên cứu đã được chấp nhận và thực hiện…
Y cảm thấy cổ họng nghẹn bứ hơi thuốc lá, cười giễu:
– Vinh danh thì có ích gì khi người đã mất rồi cơ chứ. Có nhiều lúc tôi đã muốn ngắt toàn bộ hệ thống điện làm lạnh kia, vì tôi biết được trong số những người đó có những kẻ từng chống đối, cười cợt công việc mà mẹ tôi làm, thậm chí có cả tên đã cắt cổ bà vào ngày sinh nhật tôi.
– Nhưng anh đã không làm thế – Gã chợt cảm thấy ruột gan như bị ai đó cầm kim châm vào.
Y nhìn gã rất lâu, rồi gật đầu:
– Phải, vì tôi không phải là họ, tôi không biết cách làm thế nào để có thể ra tay giết hại một con người.
***
Gã bảo, đó là một khoảng thời gian khá dài, tôi với y phóng xe ra biển. Khi đã ở tuổi bốn mươi, tôi mới được nhìn thấy vùng xanh sâu thẳm đó. Tôi lúng túng ôm phao trong khi bạn mình đã bơi ra đằng xa, nghe nói trước đây nơi này có cá mập nhưng chúng đã tuyệt chủng, nên giờ chỉ có thể trải nghiệm hình ảnh dữ tợn đó thông qua máy phát 3D mà thôi.
– Tiếc quá – Y nói – Tôi từng muốn săn cả cá mập cơ.
Gã chưa từng kể cho y nghe về mẹ mình, cũng chưa từng nói rằng lí do mình không dám ra biển là vì sợ sẽ nhìn thấy bà trong bóng dáng của những cuộn sóng bạc. Song giờ này gã nhận ra mình đang lão hóa dần dần, mặc dù cơ thể đã được dùng thuốc để duy trì, gã vẫn đếm được từng vết chân chim trên khóe mắt. Đôi khi y cũng than phiền về điều này, y muốn đến khi cuộc Rã Đông diễn ra thì bản thân vẫn còn đang ở độ tuổi đôi mươi trai trẻ.
– Tôi sẽ yêu, tôi đã nhắm trước một cô gái nom rất xinh xắn đang ngủ đông rồi. Nhưng nếu cơ thể còn già đi thì chẳng mấy chốc tôi sẽ thành chú của cô bé mất.
Gã phá lên cười khi nghe y bộc bạch, thấy bạn mình có vẻ hơi giận, bèn cười cười nói:
– Thực ra, tôi cũng chưa từng có mối tình đầu.
3.
Gã đứng đối diện với bố, tay lau bớt hơi lạnh phả trên kính, tuổi tác và các tế bào trong cơ thể ông đang ngừng lại ở tuổi năm mươi. Ngồi xuống nền gạch, gã tựa mình vào chiếc tủ, ngay dưới chân bố. Khi còn nhỏ, gã thích ngồi đọc sách dưới bãi cỏ sau nhà, bố đứng tưới hoa đằng sau, mẹ thì cặm cụi trong bếp. Gã thích quẩn quanh bên gót của bố, sau khi mẹ mất, gã đâm ra sợ phải gặp ông, thậm chí sống chung một thành phố cũng là chuyện khó khăn.
– Bao năm rồi nhỉ? – Gã nói, rờ lên nếp nhăn trên khóe mắt – Bây giờ con bằng tuổi bố rồi, khi chúng ta gặp lại nhau, không rõ xưng hô có bị gượng không nữa.
Gã bật cười chua chát:
– Có lẽ bố chưa từng biết chuyện này, đó là về sự ra đi đột ngột của mẹ…
Ngày hôm đó, gã đã ở lại trong kho rất lâu, đến tận khi y hoảng hốt tìm tới vì lo gã xảy ra chuyện không hay. Y nhìn gã ôm đầu gục vào đầu gối, hơi lạnh bám trên tóc và quần áo tạo thành lớp màng mờ ảo, rõ ràng là gã đang khóc. Y lại ngước mắt trông chiếc tủ kính sau lưng gã, đó là một người đàn ông tuổi ngoài ngũ tuần, y chợt hiểu ra mọi chuyện, rời gót lùi về phía sau, bước ra ngoài và bắt đầu đốt một điếu thuốc.
Bây giờ thì tôi đã nói hết ra được rồi, gã bảo, thật nực cười phải không? Khi tôi chỉ dám kể ra vào lúc bố mình đang ngủ đông, khi tôi đã đi được nửa đời người. Những có lẽ mọi chuyện đã kết thúc rồi. Trong giấc mơ, tôi thấy mẹ mỉm cười, bà nói bà đang trên đường đi sang thế giới khác.
Lá vàng bắt đầu phủ dày mặt đất, thảng hoặc sẽ có tiếng nghiền lá của máy dọn đường âm vang đứt đoạn nơi thinh không im ắng.
Y ngước mắt lên khi gã đứng trước mắt mình với một chai rượu trong tay.
– Tequila 2081 đây – Gã giơ cái chai với sắc rượu hổ phách ra, nhoẻn miệng nói.
Sau đó, gã chẳng còn nhớ mình đã sống ra sao, có đôi lúc gã và y vào trong siêu thị để tìm đồ ăn vặt cùng với mấy lon bia cho bớt nhàm chán. Trong thời gian này, gã đã chứng kiến sự tiến bộ vượt bậc của khoa học đối với việc nghiên cứu AI, bởi có lần gã thấy một người máy giữ nhiệm vụ trông coi các cửa hàng lẻn ra gần rào chắn để vuốt ve một chú mèo con.
– Ơn trời là dường như chúng đều nhân hậu. – Y nhận xét khi nghe gã kể lại chuyện này.
Gã gật đầu:
– Vậy thì hãy uống vì sự tử tế nhân tạo nào!
Y bật cười. Hai người uống bia dưới bầu trời đầy sao, ngắm đàn đom đóm thắp lên từ phía khu rừng ngoài rào chắn, vỏ lon xếp đầy dưới đất, dường như đến cả gió cũng bị thu hút bởi hơi men bèn náu lên trên tán lá dày.