[BÀI DỰ THI LE SPECTRE #4: KẺ PHẢN THẦN]

Tác giả: Nguyễn Quang Huy
Lớp – Trường:
Đại Học Sư Phạm Hà Nội 1

“…Vào những thời đại xa xưa, các vị thần xuất hiện và cai trị loài người. Họ xây dựng lên những vương quốc rộng lớn, những đội quân chiến binh thần thánh, con người sống trong ánh hào quang rực rỡ tỏa ra từ họ… Tất cả đều viên mãn và tràn đầy hy vọng.

Mặc dù vậy, mặt đất chỉ có giới hạn của riêng nó, còn lòng tham và mong muốn thống trị thì không thể kiềm chế được. Các cuộc chiến đã nổ ra – Cuộc Chiến Giữa Các Vị Thần, từ ngày này qua ngày khác, từ tháng này qua tháng khác, từ năm này qua năm khác…, cho đến khi Cuộc Chiến Định Mệnh diễn ra. Cuộc chiến khốc liệt chưa từng có trong lịch sử của thế giới kéo dài 20 năm, mạnh mẽ và tàn khốc, cuộc chiến đã làm thay đổi cả nền móng của mặt đất và gây ảnh hưởng đến cả loài người và các vị thần.

Thế giới trở nên hỗn loạn, sự hủy diệt bao trùm khắp các mảnh đất và hy vọng chỉ còn là đốm lửa tàn trước cơn gió…”.

Phải! Chúng tôi – những nữ tu ở Đền Thờ Minerva đã được giảng về những điều này từ khi được Đại Tư Tế Freya cưu mang, giúp chúng tôi thoát khỏi xiềng xích của những tên thương nhân nô lệ cho đến khi làm lễ thề nguyện vào năm 16 tuổi rằng sẽ sống cả đời trinh bạch, giữ sự trong sáng để phục vụ cho ý muốn cao cả của Vị Thần Bảo Hộ thành phố Vamia.

Tôi nghe những câu này đến mức thuộc lòng và phát chán về việc phải nghe đi nghe lại suốt từng ấy thời gian. Tôi dám cá rằng tất cả những nữ tu khác trong nhóm chúng tôi đều có suy nghĩ như vậy nhưng sẽ không có ai biểu lộ bất kì một thái độ gì ra trước mặt kể cả tôi vì chúng tôi biết rằng nếu không có sự giúp đỡ và lòng nhân từ của Freya thì chúng tôi vẫn sẽ ở trên những chiếc xe chở đầy ắp những người nô lệ đem bán cho những tên nhà giàu, chúng tôi sẽ phải chịu đựng, làm những công việc ghê tởm mà chúng bảo. Vậy nên việc ngồi đây nghe Đại Tư Tế giảng dạy về kinh thánh là một việc còn dễ chịu và thoải mái hơn nhiều.

Có lẽ ở đây chỉ trừ mỗi Irina, cô ta thực sự lắng nghe một cách chăm chú như thể cô sẽ được ban phước lành nếu như làm việc đó. Tôi đoán là do cô ta khác chúng tôi, thay vì là nhưng kẻ nô lệ được Đại Tư Tế cứu giúp, coi đền thờ như chỗ lánh nạn thì cô ta lại xuất thân từ một gia đình quý tộc có tiếng trong thành phố Vamia này. Cô ta vốn dĩ là một vị tiểu thư nhưng đã có một động lực gì đó thúc đẩy cô ấy bỏ nhà đi và trở thành một nữ tu ở đây.

Trong khi tôi đang thầm nghĩ về Irina thì đã nghe thấy tiếng Đại Tư Tế gọi tôi: “Glorianna…!”, đây cái tên mà Freya đã đặt cho tôi khi tôi được đưa về Đền Thờ và làm lễ thề nguyện, trước đó các chị em gọi tôi là Ira.

Chắc hẳn bà ấy đã để ý đến ánh mắt mất tập trung của tôi, đây không phải lần đầu tiên của tôi. Như thường lệ, bà vẫn yêu cầu tôi tiếp tục những lời mà bà đang giảng.

Tôi đứng lên, nhìn bà ấy bằng một ánh mắt hối lỗi của một nữ tu ngoan đạo và ngay thẳng chẳng may phạm phải điều sai trái, sau đó làm theo yêu cầu của bà: “Trong những giây phút cuối cùng của thế giới, Cửu Thần đã xuất hiện, các Ngài thương xót cho con người, các Ngài đứng lên chống lại tất cả các vị thần khác và cứu rỗi thế giới. Loài người đã thoát khỏi diệt vong, hòa bình đã được thiết lập lại và một kỷ nguyên mới đã được mở ra cho đến ngày nay, chúng ta vẫn sống và hưởng thụ những điều tốt đẹp trong nó – Kỷ Nguyên Ánh Sáng…”.

Tôi bắt đầu quỳ xuống và chắp tay đọc những lời cầu nguyện mà Freya từng dạy cho chúng tôi: “Chúng ta, thế hệ của những người con được Cửu Thần thương xót và cứu vớt, cho dù đã hơn mười nghìn năm trôi qua, chúng ta vẫn phải duy trì lòng biết ơn và sự sùng kính tới các Ngài, công ơn của các Ngài không thể đong đếm bằng những con số mà ta biết, chỉ có thể dùng cả cuộc đời này phục tùng ý nguyện của các Ngài mới có thể bày tỏ hết lòng mến mộ của chúng ta…”.

Tôi đọc to tên và bắt đầu ca ngợi các Ngài, đó là cách để bày tỏ lòng thành theo như những gì mà Freya chỉ dạy: “Hỡi nữ thần Vera! Nữ Hoàng Tinh Tú, nữ thần quyền lực đứng đầu Cửu Thần… xin bà hãy chỉ đường dẫn lối cho con được đến với tình yêu và hạnh phúc.

Hỡi thần Lửa Talio! người nắm giữ quyền năng của ngọn lửa thuần khiết nhất, Đấng Phu Quân của Vera, chứng minh cho sự trong sạch của con.

Cúi xin Người Cai Quản Và Chăm Sóc Cây Cối, nữ thần Mùa Màng Malia ban phát cho vụ mùa được bội thu, cho đất đai màu mỡ.

Hỡi thần Gió Taigar! Vị Chúa Tể Đằng Sau Những Cơn Bão, Ngài sẽ ban cho những tín đồ trung thành của mình tốc độ phi thường và khả năng bay lượn.

Hỡi nữ thần xinh đẹp nhất trong các vị thần! nữ thần Nước Melian, bà đem nước đến các thành phố, duy trì sự sống trong ta… Là vị thần nhân từ, nước mắt bà sẽ rửa trôi mọi tội lỗi của kẻ biết sám hối.

Đời đời nhớ ơn thần Isarva, Vị Chiến Thần hùng mạnh đã đứng lên kêu gọi và dập tắt cuộc chiến năm xưa.
Cầu xin thần Thịnh Vượng Limpanor, Chúa Tể Châu Báu ban phát sự giàu có đến mọi người.

Hỡi thần Vairu! Nam Thần Công Lý, Sứ Giả Hòa Bình, trợ thủ đắc lực của Vera và Talio, cầu xin Ngài hãy duy trì sự hòa bình của Kỷ Nguyên Ánh Sáng.

Và hỡi ôi nữ thần Sức Mạnh Và Năng Lượng Minerva! Người là Vị Thần Bảo Hộ cho cả thành phố Vamia này, con và người dân của Vamia xin được tạ ơn vị nữ thần đã che trở cho chúng con và thành phố hơn mười nghìn năm qua. Người là nguồn sống trong con, là sức mạnh tiềm ẩn, bảo vệ và chữa lành cho con…”.

Đại Tư Tế Freya tỏ rõ nét mặt hài lòng với những gì tôi vừa thể hiện, có lẽ bà đã bỏ qua cho tôi.

Tiếng chuông của Đền Thờ bắt đầu reo lên báo hiệu mặt trời đang đi về phía cuối rặng núi, những ngọn nến bắt đầu được thắp lên trong đại sảnh và trên bệ thờ của nữ thần Minerva. Chúng tôi xếp hai thành hàng đứng sau Đại Tư Tế Freya để làm lễ cầu nguyện trước khi màn đêm buông xuống, từng lời cầu nguyện được thốt ra trước bức tượng khổng lồ của Nữ Thần Minerva, bức tượng miêu tả nữ thần đang cầm một thanh giáo giương cao về phía trước, tay còn lại của bà đang cầm một chiếc cung tên bằng vàng. Cả một không gian rộng lớn giờ đây được bao phủ bởi một lớp màu huyền ảo và thần thánh.

Tất cả các hoạt động cúng tế đều diễn ra trước bức tượng nữ thần nhưng tôi chưa bao giờ thấy một Minerva nào ngoài đời, xuất hiện dưới hình dạng vĩ đại mà chúng tôi tôn thờ để nghe chúng tôi cầu nguyện và nhận lấy lễ vật của chúng tôi cả. Điều đó thúc đẩy tôi mong muốn được một lần gặp trực tiếp nữ thần, hàng vạn câu hỏi về nữ thần bỗng nảy ra trong tôi và trong một phút sai lầm, tôi đã phạm vào một điều cấm kị của những nữ tu tại Đền Thờ, nghi ngờ vị thần của mình.

Tại trung tâm cao nhất của thành phố Vamia này là nơi đặt Tòa Tháp Tối Cao, một tòa tháp to lớn và chọc trời, đỉnh của tòa tháp đó chính là nơi ngự trị của nữ thần Minerva. Người ta vẫn hay đồn rằng nữ thần ngồi ở đó, trên ngai vàng quyền lực của mình, nhìn xuống và theo dõi hành động của những người dân Vamia.

Tòa Tháp Tối Cao là nơi cấm kị, không một người ngoài nào có thể đi vào trong tòa tháp, chỉ có những Vị Hầu Cận của nữ thần, những tay sai trung thành mới được phép ra vào nơi đó. Đền thờ nằm cách không xa tòa tháp là bao, đứng từ đây tôi có thể thấy bóng dáng những người Hầu Cận đi qua lại quanh tòa tháp. Cách ăn mặc của họ tỏ ra khá bí ẩn khi họ trùm kín người bằng chiếc áo choàng đen che phủ đến tận gót chân, không ai từng thấy được mặt của họ bởi vì họ thường xuyên đeo một chiếc mặt nạ với những hoa văn để che đi gương mặt của mình.

*
* *

Chúng tôi nhận được tin báo rằng các vị Hầu Cận sẽ đi tới Đền Thờ vào sáng ngày mai để truyền đạt lại ý chỉ của nữ thần Minerva đến chúng tôi. Đại Tư Tế Freya cùng các nữ tu khác đều vui mừng, đây là lần đầu tiên trong đời chúng tôi được tiếp xúc với điều này, tất cả đều cảm thấy như được ở gần bà ấy mặc dù chỉ là thông qua ý chỉ của bà. Tin tức lan truyền rất nhanh, trong phút chốc, không chỉ chúng tôi mà cả người dân thành phố Vamia đều đã biết tin này.

Ngay khi mặt trời vừa ló rạng, tiếng chuông Đền Thờ đã bắt đầu ngân vang, thông thường các nữ tu sẽ thay phiên nhau thức dậy và làm việc này nhưng có lẽ hôm nay là ngày đặc biệt, ngày mà một Đại Tư Tế của Đền Thờ như Freya lại tự làm lấy điều này. Có lẽ bà ấy lo rằng chúng tôi sẽ làm sai mất điều gì hay đó là cách bà ấy thể hiện lòng thành của mình. Tôi nghĩ là cả hai.

Các nữ tu khác cũng đã thức dậy khỏi giường, họ đang chuẩn bị những bộ y phục chu đáo nhất cho ngày hôm nay. “Cô nên chuẩn bị từ lúc này đi, Glorianna! Các Hầu Cận sẽ không muốn nhìn thấy một nữ tu nhếch nhác đâu!”, tôi quay sang và thấy Irina đứng bên cạnh giường tôi, cô ta dùng giọng điệu nghiêm khắc để nhắc nhở tôi như một Đại Tư Tế vậy.

Tôi đáp lại cô ta: “Tôi nghĩ vị trí Đại Tư Tế tiếp theo sẽ do cô tiếp quản đó, Irina!”. Cô ta nhìn tôi bằng cặp mắt không mấy thiện cảm, sau đó cô ấy quay đi và bỏ mặc tôi vẫn đang ngồi trên giường.

Bọn tôi chuẩn bị thật chỉnh chu sau đó di chuyển đến đại sảnh của Đền Thờ để cầu nguyện. Đền Thờ đã được chính tay Đại Tư Tế Freya thắp từng ngọn nến và treo từng vòng hoa, cửa chính của đại sảnh đã được mở ra từ lâu, bà ấy đã dậy sớm để làm công việc này, công việc của một tín đồ trung thành nhất.

Bên ngoài tôi có thể nhìn thấy đã có hàng ngàn người dân của Vamia lũ lượt kéo nhau ra ngoài, đứng chật những con đường được lát đá cẩm thạch trắng để được xem các vị Hầu Cận thần thánh của Minerva.

Ngay khi những lời cầu nguyện cuối cùng được thốt lên cũng chính là lúc các vị Hầu Cận đi ra từ Chiếc Cổng Vàng của Tòa Tháp Tối Cao. Một khung cảnh thần thánh hiện ra trước mắt khiến ngay cả người đứng ở vị trí xa nhất cũng cảm thấy ngỡ ngàng, các vị Hầu Cận không bước đi trên nền đất như chúng tôi, họ sải bước trên không trung giống như họ còn nhẹ hơn cả không khí, họ bước đi trên những đôi giày phát ra ngọn lửa màu xanh dương. “Thứ lửa thần thánh nào có thể giúp họ bước đi nhẹ nhàng trên không khí đến vậy?”, tôi thầm nghĩ. Từng bước đi của họ đều nhẹ nhàng và uyển chuyển như những bản nhạc khiến bao người khác ngưỡng mộ.

Sau những giây phút im lặng ngỡ ngàng của người dân Vamia, tôi bắt đầu nghe thấy tiếng họ hò reo, họ tung hô, họ ca ngợi các vị Hầu Cận và nữ thần Minerva, những cánh hoa nhiều màu sắc được họ tung lên bầu trời trong khi hô to tên Minerva để tỏ lòng thành. Có lẽ họ hy vọng rằng một trong số các Hầu Cận sẽ để ý đến họ và đem lời ca ngợi của họ đến tai nữ thần chăng?

Đoàn Hầu Cận vẫn bước đi nhẹ nhàng trên không trung, thẳng tiến tới Đền Thờ vị nữ thần họ phục tùng. Chỉ sau khi bước vào trong sảnh thờ, những ngọn lửa xanh tỏa ra dưới những chiếc giày của họ mới bắt đầu mờ nhạt dần đi và đôi chân của họ từ từ đặt xuống sàn đá của đại sảnh.

Tất cả các nữ tu và Đại Tư Tế Freya đều phải nghiêng mình cúi đầu trước họ, những người đưa tin thần thánh. Bộ áo choàng cùng với những chiếc mặt nạ càng làm tăng thêm vẻ huyền bí và quyền lực của họ. Một cảm giác rất thần thánh, rất quyền năng trỗi dậy trong tôi khi nhìn vào những vị Hầu Cận.

Vị Hầu Cần đứng đầu, tôi đoán đó là người có vị thế cao nhất, đưa cho Đại Tư Tế Freya một cuộn giấy bằng vàng lấp lánh cùng với những đường nét phát sáng trên những con chữ, chúng sáng đến nỗi có thể nhìn thấy qua mặt sau của tờ giấy.

Đại Tư Tế Freya kính cẩn đón nhận lấy cuộn giấy thiêng, tôi có thể thấy sự cẩn thận và tỉ mỉ trong từng động tác của bà ấy. Ý chỉ của Nữ thần Minerva được ghi trong tờ giấy khiến bà ấy có vẻ trầm ngâm, sau đó lại lộ chút vui mừng rồi lại về dáng vẻ trầm ngâm. Khoảnh khắc bà ấy cuộn tờ giấy lại cũng chính là lúc Freya quay sang phía chúng tôi và thông báo về ý chỉ của nữ thần.

Để tỏ lòng tôn kính, chúng tôi đều chắp tay cúi mình trước cuộn giấy bởi vì hiện tại cuộn giấy chính là hiện thân của vị nữ thần.

Freya bắt đầu truyền đạt: “Các con của ta! Hôm nay là một ngày đặc biệt. Hãy ngước nhìn nữ thần và thầm cảm ơn ân huệ của bà. Một trong số chúng ta sẽ được chọn để bước chân vào Tòa Tháp Tối Cao, nơi ngự trị của nữ thần Minerva, chúng ta sẽ được truyền dạy lại các kiến thức để trở thành bề tôi cho nữ thần.”.

Giọng nói của bà ấy tuy có phần trang nghiêm nhưng lại không giấu được sự vui mừng khôn xiết của một tín đồ trung thành.

Ngay khi Freya quay lại về phía vị Hầu Cận, trước mặt bà ấy đã là một quả cầu thủy tinh, trên đó có những đường nét kì lạ, vừa loằng ngoằng nhưng lại tuân theo một quy luật, một khuôn mẫu cụ thể nào đó. Chúng phát ra thứ ánh sáng màu vàng rực, Đại Tư Tế như bị thôi miên trước quả cầu, mắt bà ấy mở to, nhìn thẳng vào đó mà không có một lần chớp mắt.

Tất cả những nữ tu khác, kể cả tôi đều bất ngờ trước sự hiện diện của quả cầu. Tôi nghe thấy tiếng Freya ngơ ngác nói về nó: “Con Mắt Của Nữ Thần Minerva…!”.

Ánh sáng của quả cầu càng lúc càng phát ra mạnh hơn, bao phủ khắp sảnh thờ và lọt cả ra bên ngoài trước sự chứng kiến của hàng ngàn người dân Vamia. Thứ ánh sáng thần thánh đó bỗng chốc thu gọn lại chỉ còn một tia sáng nhỏ và chỉ thẳng vào trán của tôi.

Tôi ngỡ ngàng nhìn xung quanh, tất cả mọi ánh mắt đều đổ dồn về phía tôi.

“Cô ta là người được chọn, cô ta sẽ đi tới Tòa Tháp Tối Cao theo như ý chỉ của nữ thần.”, một vị Hầu Cận chỉ vào tôi và nói.

Đại Tư Tế đáp lại bằng một giọng điệu thẫn thờ trong khi đang nhìn tôi: “Ý chỉ của nữ thần Minerva là tối cao… con nguyện nghe theo lời của Người… ”.

Một vị Hầu Cận đứng sau cất tiếng: “Cô có ngày hôm nay để chuẩn bị! Cho đến khi mặt trời đi về phía rặng núi, cô sẽ tự đi từ Đền Thờ đến Tòa Tháp Tối Cao bằng chính đôi chân của mình.”.

Tôi thực sự bất ngờ về chuyện vừa xảy ra và tôi càng lo lắng hơn nữa về chuyện sắp tới. Tôi không biết có nên cảm thấy tự hào hay không nhưng tôi thực sự có chút phấn khởi khi mà có cơ hội được nhìn thấy nữ thần Minerva ngoài đời thực…

*
* *

Trong tư phòng của chúng tôi, khi mà tất cả các chị em đều đang ở bên cạnh tôi, trong khi họ vui mừng và cầu chúc cho tôi thì Irina chỉ đứng khoanh tay và dựa vào tường. Cô ta nhìn tôi, tôi cảm thấy sự khó chịu cùng với lòng đố kị trong mắt cô ta. Nếu như bây giờ tôi ngỏ ý nhờ cô ta đi thay chắc chắn cô ta sẽ đồng ý mà không có chút do dự gì.

Tôi cố gắng không để ý tới cô ta và tranh thủ chút thời gian còn lại dành cho các chị em của mình trước khi bắt đầu một cuộc sống mới.

Tiếng chuông Đền Thờ bắt đầu vang lên, Đại Tư Tế Freya đã đứng chờ sẵn để tiễn đưa tôi, bà nói: “Hãy vững tin con gái của ta! Hãy gửi lời cầu nguyện của ta đến nữ thần!”. Có lẽ đây là những lời cuối cùng tôi nghe được từ bà.

Cánh cổng Đền Thờ được mở ra, trước mặt tôi giờ là một con đường trải thảm đỏ kéo dài đến tận chân của Chiếc Cổng Vàng tại Tòa Tháp Tối Cao, hai bên đường chật ních những người dân của thành phố Vamia, họ tới xem tôi, một Hầu Cận tập sự của nữ thần.

Trên tay họ là những thứ hoa đầy đủ màu sắc, họ tung lên, họ rải xuống con đường tôi đi trong khi hô to tên của nữ thần. “Minerva… Minerva…!”, họ ca ngợi tên bà, tôi có thể cảm thấy thế.

Tòa Tháp Tối Cao hiện ra khổng lồ trước con mắt của tôi, đứng trên những bậc thềm cao nhất, tôi có thể thấy mình ngang bằng với những tháp canh cạnh tường thành. Chiếc Cổng Vàng của tòa tháp được chạm khắc tỉ mỉ những nét hoa văn miêu tả hình ảnh nữ thần đang chinh chiến, miêu tả mặt trăng, mặt trời và các vì sao.

Tôi quay lại nhìn khung cảnh thành phố một lần cuối. Dưới ánh hoàng hôn, một khung cảnh hùng vĩ hiện ra trước mắt tôi. Cả thành phố Trắng Vamia rộng lớn được bao phủ bằng một màu hồng đỏ của mặt trời phía chân núi, ánh sáng kéo dài cả chục dặm. Trên những bước tường thành của Vamia, lính canh vẫn đứng gác, bảo vệ cho một nền văn minh đã hơn mười nghìn tuổi. Tôi thầm nghĩ: “Nếu như Vamia đã đẹp như vậy, thì những thành phố khác còn đẹp đến nhường nào?”.

Tôi đã từng nghe Freya giảng về Đại Kinh Đô Andolin, nơi cai trị của Vera và Talio, thành phố Trên Cây Longolin của Malia, thành phố Gió Vastmar của thần Taigar, kinh thành Ven Biển Narya của Melian, Mỏ Vàng Và Đá Quý Monia của chúa tể Limpanor, Ambria của Isarva hay Arya của Vairu. Một sự tò mò trỗi dậy trong tôi, nếu có thể tôi sẽ tự đi đến để chiêm ngưỡng các thành phố đó…

Chiếc Cổng Vàng của Tòa Tháp Tối Cao bỗng mở ra, tiếng động đã phá vỡ sự mất tập trung của tôi, kéo tôi về thực tại của mình. Tôi sắp bước vào đây, bước vào nơi mình sẽ dành cả đời ở bên trong, tách biệt với thế giới bên ngoài chỉ để học cách phục vụ một vị thần.

Phía sau Chiếc Cổng Vàng là một đại sảnh rộng lớn, tòa tháp tuy to lớn, nhưng đứng nhìn vào trong tôi có thể thấy đại sảnh còn rộng lớn hơn ngoài phạm vi của tòa tháp, tôi cảm thấy kì lạ hoặc có thể là một điều gì đó mới lạ mà tôi chưa biết.

Có hai vị Hầu Cận ra đón tôi vào trong tòa tháp. Tôi vẫn nghe thấy tiếng những người dân của Vamia hô to những lời ca ngợi nữ thần trước khi cánh cửa đóng hoàn toàn. Các vị Hầu Cận phát cho tôi những bộ áo choàng đen trùm kín người như họ đang mặc.

Tất cả các vị Hầu Cận đều đeo mặt nạ mọi lúc, mọi nơi và khá kiệm lời. Họ chia ra làm 11 nhánh, mỗi nhánh có một vị Hầu Cận Bậc Cao đứng đầu, dưới quyền họ là các vị Hầu Cận bậc thấp hơn. Có một vị Hầu Cận Bậc Trung được giao nhiệm vụ quản thúc và phổ biến cho tôi về luật lệ và tên gọi các nhánh ở đây. Tôi không bất ngờ mấy vì luật lệ ở đây cũng không khác gì hồi còn ở Đền Thờ, thứ duy nhất làm tôi bất ngờ đó là những cái tên kì lạ mà họ đặt cho các nhánh ở đây.

Mười một nhánh là mười một tên gọi kì lạ khác nhau bao gồm: Toán Học – Mathematism, Vật Lý Học – Physicism, Hóa Học – Chemistrism, Sinh Học – Biolism, Chiêm Tinh Học – Astrologism, Thiên Văn Học – Astronism, Địa Lý Học – Geogrism, Khí Tượng Học – Meteorolism, Thủy Văn Học – Hydrolism, Địa Chất Học – Geologism, Hải Dương Học – Oceanism. Những cái tên kì lạ mà tôi chưa từng nghe thấy một lần ngoài kia, tôi mặc định đó là những cái tên chỉ thần thánh mới được sử dụng. Sau khi cố gắng hỏi vị Hầu Cận quản thúc tôi, cuối cùng tôi cũng biết Ngài ấy là người của nhánh Physicism.

Việc học tập kiến thức ở đây được bắt đầu ngay ngày sau đó, tôi không có thời gian để làm quen với không khí của nơi đây, cũng chẳng có thời gian để bắt chuyện với các vị Hầu Cận khác, mọi sự bỡ ngỡ của tôi đều phải gạt qua một bên để có thể tập trung vào việc học tập kiến thức mà họ truyền đạt.

Bài học đầu tiên của tôi ở đây là một bài học kì lạ. “Hãy quên hết những thứ cô được dạy ở Đền Thờ!”, đó là điều mà một vị Hầu Cận thuộc nhánh Mathematism dạy tôi vào buổi học đầu tiên. Khi được hỏi về điều này, họ bắt đầu tỏ ra bí mật và giữ kín lý do khỏi tôi. Việc duy nhất tôi được phép làm ở đây là lắng nghe và ghi nhớ tất cả những gì họ giảng dạy, tất cả kiến thức đều mới lạ với tôi.

Những vị Hầu Cận thuộc nhánh Mathematism dạy tôi về những con số, cấu trúc, không gian, sự thay đổi…, họ có thứ thuật ngữ gọi là phép toán. Tôi được học nhiều phép toán, nhiều loại công thức khác nhau, họ yêu cầu tôi phải ghi nhớ thật kĩ những kiến thức đó vì họ sẽ kiểm tra tôi đột xuất.

Những vị Hầu Cận thuộc nhánh Physicism dạy tôi về thứ gọi là vật chất và chuyển động của vật chất cùng với những thứ kì lạ như năng lượng và thế nào là lực. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi được biết rằng trong ánh sáng mà tôi thường thấy lại có bảy loại màu sắc khác nhau bao gồm: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím. Họ gọi đó là Quang Phổ của ánh sáng…

Sang đến Chemistrism, tôi được họ dạy về các nguyên tố, hợp chất, sâu hơn nữa là các nguyên tử, phân tử. Họ chỉ dạy tôi làm thí nghiệm với những lọ đựng các chất lỏng nhiều màu của họ để xem chúng “hòa” với nhau, theo cách họ gọi là phản ứng hóa học.

Các vị Hầu Cận ở nhánh Astrologism họ dạy tôi quan sát các vì sao thông qua một lỗ nhỏ của ống kính khi bạn hướng phần đầu to hơn lên trời. Họ đặt tên cho các vì sao, họ chỉ cho tôi đâu là Xử Nữ, đâu là Sư Tử… họ gọi đó là 12 Cung Hoàng Đạo. Họ quan sát sự chuyển động của các ngôi sao và chòm sao trên bầu trời để đưa ra dự đoán. Khi được hỏi về quyền năng cai quản và tạo ra các vì sao của Nữ Hoàng Tinh Tú Vera thì tôi vẫn nhận được sự lảng tránh từ họ.

Mọi kiến thức càng trở nên rắc rối và khó hiểu hơn nữa khi tôi được các vị Hầu Cận của nhánh Astronism giảng dạy. Họ dạy tôi rằng mặt đất không hề vuông vắn như Đền Thờ vẫn nghĩ và thực chất chúng ta chỉ đang đứng trên một khối cầu gọi là Trái Đất và nó quay xung quanh mặt trời. Điều này đi ngược lại tất cả những gì tôi được học tại Đền Thờ, rằng mặt đất là trung tâm vũ trụ, tất cả đều vì sao, mặt trăng, mặt trời đều bao quanh nó.

Họ cho tôi xem những hình ảnh tạo thành bằng những tia sáng phát ra từ một chiếc hộp kim loại nhỏ để tôi có thể quan sát nơi tôi đang sống – Trái Đất, về những quả cầu khổng lồ khác đang di chuyển quanh một quả cầu lửa vĩ đại. Chiếc hộp còn có thể cho tôi nhìn thấy hình ảnh thành phố Vamia hùng vĩ với góc nhìn từ trên cao hàng trăm mét. Tôi không thể tin được vào mắt mình.

Thông qua những chiếc kính khổng lồ của họ, chúng còn to lớn hơn cả những chiếc kính của nhánh Astrologism gấp vạn lần, nó cho tôi nhìn thấy những thứ còn to lớn hơn cả những vì sao sáng nhất. Các vị Hầu Cận gọi đó là các hành tinh hay tinh cầu, những vì sao đang chuyển động gọi là những ngôi sao chổi, chúng không phải là nước mắt của Vera mà tôi vẫn được dạy…

Những vị Hầu Cận ở nhánh Geogrism dạy cho tôi về những vùng đất, địa hình của chúng cùng với những con người, các phong tục của họ và các hiện tượng tự nhiên. Thông qua chiếc hộp phát ra ánh sáng, họ cho tôi nhìn thấy những thành phố hùng vĩ của Kỷ Nguyên Ánh Sáng. Giờ đây, nào là Đại Kinh Đô Andolin, Vastmar, Narya hay Longolin,…, tất cả đều thu gọn vào trong một khung hình trước mắt tôi, nhưng nó vẫn giữ được nét vĩ đại, quyền thế và hoàn mĩ trong sự thịnh vượng và hòa bình suốt cả chục nghìn năm
Khác với Geogrism, các vị Hầu Cận của Geologism có vẻ chuyên về việc nghiêm cứu các thành phần, cấu trúc, đặc điểm của lớp vỏ mặt đất cùng với các chất cấu tạo nên nó hơn. Họ dạy cho tôi rất nhiều thứ về quá trình hình thành, vận chuyển và biến đổi của các chất này…

Những vị Hầu Cận ở nhánh Meteorolism đã nghiên cứu về lớp khí bao quanh Trái Đất từ lâu và họ dạy tôi những cách nhận biết và dự đoán các hiện tượng thời tiết.

“Chúng ta đâu thể đoán trước được ý muốn của thần Gió Taigar?”, tôi cố gắng tìm câu trả lời cho câu hỏi của mình. Họ chỉ bật cười về câu hỏi của tôi sau đó khuyên tôi nên bỏ qua những lời trong kinh sách và tập trung vào điều họ dạy.

Các vị Hầu Cận Hydrolism giảng dạy cho tôi về sự vận động, phân phối của các dòng nước và các nguồn nước trên mặt đất. Còn Oceanism thì tập trung nghiêm cứu về đại dương cùng những gì diễn ra bên trong nó và sự liên quan tới nhiều vấn đề khác.

Tất cả những điều họ dạy đều không thể làm khó được tôi, tôi cố gắng ghi nhớ và vượt qua các bài kiểm tra để làm hài lòng tất cả bọn họ.

Cho đến khi được gặp các vị Hầu Cận của nhánh Biolism, họ là những người thân cận nhất với nữ thần Minerva và cũng là những người mang những từ ngữ khó hiểu nhất để giảng dạy cho tôi.

Tại Đền Thờ, tôi được Freya giảng về việc các vị thần nặn ra hình hài con người bằng bùn và đất sét nhưng ở đây tất cả đều bị họ bác bỏ. “Nhảm nhí…!”, đó là cách họ nói với tôi.

“Thật kì lạ! Nếu như ở ngoài kia, một người nào đó có ý xúc phạm tới các vị thần sẽ bị lôi ra xét xử ngay lập tức. Nhưng ở đây họ, những người phục vụ thần linh lại có thể buông ra những lời như thế sao?”, tôi chỉ để những suy nghĩ này trong đầu và sẽ không bao giờ dám nói ra.

Một điều đáng kì lạ nữa, chính Minerva lại là người để cho họ nói những điều đó ư? Một vị nữ thần lại để cho tay sai của mình động chạm đến danh hiệu mình ư? Tôi đã từng khá nghi ngờ về một vị thần và giờ đây điều đó lại hiện hữu bên trong tôi.

Các vị Hầu Cận giảng cho tôi những kiến thức về tế bào, các mã gen, tiến hóa, di truyền và cân bằng nội môi… Họ giải thích một cách rất chặt chẽ về sự sống trên Trái Đất và con người. Tất cả những điều được ghi trong kinh sách đều trở nên phi lý dưới kiến thức họ giảng dạy, nó khiến tôi nghi ngờ về những câu nói trong kinh văn, tại sao những gì họ truyền đạt lại khác xa thế giới bên ngoài như vậy? Liệu có một điều gì đó bí ẩn đang bị che giấu đằng sau những lời lẽ đó hay chăng?

Ngoài việc học tập ra, tôi còn phải trải qua những bài rèn luyện sức khỏe và khả năng chịu đựng mà nhánh Biolism yêu cầu. Tất cả đều diễn ra trong một cái lồng kính với khả năng thay đổi các điều kiện bên trong nó, tôi được mặc một bộ áo bó sát, trái ngược so với y phục của một vị nữ tu và thực hành các bài tập theo yêu cầu của các vị Hầu Cận trước sự quan sát vủa họ. Mỗi bữa ăn tôi chỉ được ăn một loại hỗn hợp nhầy và đặc, chúng có mùi nồng rất khó nuốt.

Tôi làm theo và tập trung vào những điều họ chỉ dạy bởi vì kể cả tôi có xuôi theo họ hay giữ vững lý lẽ của Đền Thờ thì họ vẫn sẽ tiếp tục giảng dạy những điều đó cho tôi đến khi nào tôi chịu nghe và ghi nhớ những kiến thức đó. Không có bất kì sự lựa chọn nào khác ở đây. Đó là điều kiện cần trước khi được diện kiến Minerva.

Tôi đã dành ra hơn 5 năm 11 tháng 6 ngày để luyện tập, tiếp thu và làm quen với kiến thức, môi trường ở đây.
Cuối cùng, tôi đã chính thức vượt qua những bài kiểm tra của họ, các vị Hầu Cận đem đến cho tôi một con dao hoàng kim với những hoa văn và đường nét mà tôi từng thấy trên quả cầu thủy tinh năm đó. Họ nói với tôi: “Cô đã đủ điều kiện để được diện kiến Minerva. Trình độ kiến thức lẫn thể chất của cô đều đáp ứng đủ yêu cầu của Nữ thần…, con dao này là món quà mà bà ấy tặng cho cô, hãy giữ nó bên mình thật cẩn thận và chuẩn bị cho những điều tiếp theo bởi vì đây mới chỉ là khởi đầu…!”. Đây là những gì tôi được nghe trước ngày họ đưa tôi đến để diện kiến Minerva.

*
* *

Tôi sắp được diện kiến một vị thần ngoài đời thực, mặc dù những kiến thức tôi được học đã làm chính tôi nghi ngờ về một vị thần nhưng tôi sẽ không bỏ qua cơ hội đáng quý này.

Đại Tư Tế Freya và các nữ tu khác đều tự hào vì tôi được chọn, ít ra tôi cũng có thể làm họ hãnh diện.

Đúng 12h trưa của ngày thứ 7, các vị Hầu Cận tới và đưa tôi đến đại sảnh Pha Lê Đen trên đỉnh của Tòa Tháp Tối Cao, nơi đặt ngai vàng quyền lực của nữ thần Minerva.

Chúng tôi bước vào trong một chiếc đĩa kim loại để đi lên đỉnh tháp và tới trước cánh cửa lớn của đại sảnh Pha Lê Đen.

Cánh cửa lớn của đại sảnh được làm bằng bạch kim và gắn những viên kim cương lấp lánh. Có hai vị Hầu Cận khác đứng sắn ở đó và mở cánh cửa lớn ra, để lộ một con đường dẫn tôi vào bên trong đại sảnh.

Men theo con đường trải đầy kim cương, tôi đã đi đến nơi ngự trị của nữ thần. Đại sảnh tôi thấy còn rộng lớn hơn cả phạm vi của tòa tháp, những bức tường của đại sảnh được làm hoàn toàn bằng pha lê đen. Nơi cao nhất trong đại sảnh chính là Ngai Vàng khổng lồ của nữ thần. Phía trước Ngai Vàng là một hồ nước hoàng kim, một loại nước mà tôi chưa từng được gặp ở thế giới ngoài kia, nó tỏa ra hơi ấm và lấp lánh như những tia sáng của mặt trời vậy…

Từ dưới hồ, một người phụ nữ vĩ đại xuất hiện, bà ta đẹp, quyến rũ và quyền năng, những nguồn sức mạnh khổng lồ bao quanh thân thể thần thánh của bà ta, làn da của bà ấy tỏa ra một thứ ánh sáng tuyệt diệu. Trước mắt tôi lúc này chính là vị nữ thần của Sức Mạnh Và Năng Lượng – Minerva.

Tôi vội vàng quỳ gối trước vẻ thần thánh và quyền lực đó, tôi đọc to những lời cầu nguyện từng được dạy ở Đền Thờ, cố tỏ ra mình là một tín đồ sung kín và trung thành.

Nữ thần nhìn tôi một lúc lâu, ánh mắt của bà ấy chứa đầy sự quyền lực. Ngay khi bà ấy bước chân ra khỏi hồ nước hoàng kim, ánh hào quang và cơ thể của bà ấy thu lại dưới hình dạng tương đương tôi, nhưng bà ấy vẫn giữ được thần thái của một vị thần.

“Đứng lên con của ta! Ta là bạn của con!”, giọng bà ấy trầm ấm, pha lẫn chút thanh cao, quý phái. Bà ấy dùng đôi tay mượt mà của mình để đỡ tôi đứng lên. Tôi có thể thấy bà ấy đang cố tỏ ra thân thiện.

Giọng nói của tôi trở nên giống Freya mỗi lúc bà ấy cầu nguyện: “Ôi Nữ thần! Được diện kiến người là niềm vinh hạnh của con! Con đến đây cùng với tấm lòng thành và những lời cầu nguyện của các nữ tu tại Đền Thờ, cúi xin Người chứng giám cho lòng sùng kính của họ!”.

Bà ấy liếc mắt nhìn tôi và nói bằng một giọng xem thường: “Chúng thật mê muội khi quỳ lạy trước bức tượng đó mỗi ngày. Chúng nên biết rằng ta chưa từng xuất hiện ở đó hay nhận bất kì vật gì mà chúng dâng lên…”.

Chưa kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra, bà ấy đã lấy hai tay đặt lên má tôi và nói tiếp: “…Nhưng ở đó, nơi ta không ngờ tới nhất thì lại xuất hiện con, con của ta!”.

Đôi tay bà ấy vuốt nhẹ trên má tôi, những chiếc móng tay lướt nhẹ qua da của tôi trong khi bà ấy đang nói những lời khó hiểu: “Hãy nhìn con đi! Quả cầu đã tìm ra con trong hàng vạn người ngoài kia, con đang sở hữu những gì ta cần…, mã gen của con đáp ứng đủ những gì ta cần. Ta đã tìm kiếm một người như con trong suốt 830 năm qua rồi…”.

Minerva có thể nhận ra một sự sợ hãi đang bao phủ lên gương mặt và kéo dài suốt sống lưng của tôi… Chẳng lẽ tôi chỉ là một thứ nguyên liệu gì đó mà bà ta cần thôi sao? Mạng sống của tôi sẽ bị bà ta tước đi ngay bây giờ hay sao?

Bà ta dùng những lời để an ủi tôi nhưng đồng thời cũng ra lệnh cho tôi: “Con không cần phải lo lắng con gái của ta! Con là người được chọn, con có sứ mệnh cao cả hơn là bọn Hầu Cận và con sẽ kế thừa nó từ ta!”.

Sự sợ hãi trong tôi tăng dần lên, tôi bắt đầu hoang mang, miệng tôi nín bặt trước sự bí ẩn và ma mị trong từng câu nói của bà ta.

Bà ta tiếp tục nói những lời bí ẩn đó: “Lịch sử là một thứ giả dối, con của ta! Trong thế giới ngày nay Chúng Ta không cho phép nó tồn tại, lũ Historism đã bị khai tử từ rất lâu đến nỗi không một ai còn nhớ đến sự xuất hiện của chúng. Giờ đây tất cả những gì các người đọc trong những cuộn giấy đều là giả dối… Không có bất kì một vị thần nào, không có bất kì Minerva nào, kể cả là một cái danh hiệu…”.

Một màn kịch. Phải! Một màn kịch đã được hé lộ ra trước những lời nói của Minerva. Bà ta có thể không phải là một vị thần thực sự, có thể là một kẻ ăn cắp sức mạnh từ nơi nào đó và đã lừa dối cả thế giới.

“Từ hàng trăm nghìn năm trước, xa hơn cả sự xuất hiện của Kỷ Nguyên Ánh Sáng. Nhân loại đã đạt được những thành tựu vĩ đại, xây dựng nên những công trình to lớn. Một trong những thành tựu đó chính là… Năng Lượng Hạt Nhân, nó mạnh mẽ, to lớn, nó đem lại những lợi ích dồi dào cùng với sự phát triển vượt bậc cho hàng trăm, hàng ngàn thành phố rộng lớn và hiện đại thời bấy giờ…”, bà ta nhấn mạnh từng chữ trong khi đang nhìn tôi.

“Cả ngươi và ta đều biết, bất cứ thứ gì mang trong mình lợi ích to lớn đều làm trỗi dậy lòng tham và ham muốn độc chiếm của con người. Chỉ vì sự tham muốn của mình, họ đã gây ra bao cuộc chiến, vào những giờ phút đầu tiên của Định Mệnh, các lò chứa năng lượng đã phát nổ và gây rò rỉ hạt nhân ra toàn bộ Trái Đất này.
Hậu quả nó để lại rất thảm khốc, môi trường bị tàn phát nặng nề, mặt đất bị hủy diệt, nguồn nước trở nên độc hại, các sinh vật chết tràn lan, cơ thể của con người bị nhiếm nguồn năng lượng khiến họ bị biến đổi cả về thể chất lẫn tinh thần… Một số còn chẳng qua khỏi…”.

Bà ta bỗng dưng dừng lại những câu nói của mình. “Tháo nó ra!”, Minerva ra lệnh cho những người Hầu Cận đứng ở đó.

Họ lần lượt cởi bỏ chiếc mặt nạ mà họ đang đeo, khuôn mặt của họ bị biến dạng, méo mó như những kẻ bị bỏng nặng hay bị một vật va vào đầu đến nỗi biến dạng, tôi bàng hoàng và kinh ngạc trước những gì mà tôi đang nhìn.

Minerva quay sang tôi và nói: “Ngươi nên cảm thấy may mắn khi là những thế hệ sinh sau đẻ muộn, các ngươi không trực tiếp tham gia vào sự kiện đó. Họ, những kẻ vô tội đang phải chịu những đột biến vĩnh viễn mà tổ tiên chúng để lại khi đã trực tiếp góp phần vào việc chế tạo nên nguồn năng lượng đấy… Đôi khi làm một người bình thường cũng thật thích phải không?”.

Bà ta tiếp tục câu chuyện còn đang dang dở: “Trong số hàng tỉ người phải chịu đựng cái chết hay bị biến dạng mãi mãi về sau, một số khác thì may mắn hơn khi qua bao thế hệ cuối cùng cũng đã đào thải được những đột biến cùng toàn bộ phóng xa ra ngoài, đó chính là những kẻ đang ăn sung mặc sướng ngoài kia, những kẻ như ngươi.

Chỉ có chín người chúng ta, chín người sở hữu những Mã Gen Đặc Biệt đã may mắn thích nghi được với nguồn phóng xạ. Điều này giúp chúng ta sống sót nhưng đồng thời nó cũng khai mở ra các tiềm năng mà não bộ cùng các cơ quan khác của chúng ta chưa từng chạm tới. Lần đầu tiên trong đời, ta có thể cảm nhận được từng cảm giác trong từng tế bào, ta có thể làm được nhiều khả năng đặc biệt hơn nữa, dòng năng lượng hạt nhân bắt đầu chảy trong ta và trở thành một thứ sức mạnh, một quyền năng tối cao chỉ có trong truyền thuyết, nó thậm chí còn kéo dài tuổi thọ của ta đến vài nghìn năm…

Chín người chúng ta đã quyết định hợp sức lại và thay đổi thế giới. Dưới quyền cai trị của Chúng Ta, các thành phố đã được xây dựng lại, nhưng chúng ta đã quyết định che dấu lịch sử, che dấu tất cả những kiến thức khỏi nhân loại. Tất cả đều bị hai chữ phép thuật lừa dối và con người thì tôn thờ chúng ta như những vị thần…”.
Bà ta vừa nói vừa rút một chiếc nhẫn hoàng kim đang đeo trên tay phải của mình ra: “Nhưng cái gì cũng có giới hạn của nó, đặc biệt là tuổi thọ của con người. Nó có thể dài cả nghìn năm nhưng sẽ không thể là mãi mãi, tất cả các tế bào rồi cũng sẽ bị phóng xạ làm cho tan biến… Ta vẫn luôn phải ngâm mình trong làn nước phóng xạ kia để duy trì sắc đẹp của mình.”

Bỗng nhiên những ngón tay của tôi bị một lực vô hình điều khiển, chắc chắn Minerva đã làm điều này, chiếc nhẫn được đeo vào ngón trỏ của tôi trong chốc lát. Một luồng điện từ chiếc nhẫn giải phóng vào trong tôi và chạy đến phần não, thứ ánh sáng trắng hiện ra trước mắt tôi kèm theo những hình ảnh của quá khứ.

Ở đó, tôi nhìn thấy những lò phản ứng khổng lồ ngang bằng những ngọn núi, một vụ nổ đã xảy ra, tất cả đều bị tàn phá… Tôi nhìn thấy hình ảnh một người phụ nữ với những quyền năng khủng khiếp mà bà ấy có thể làm bao gồm cả cải tạo thế giới. Bà ta cùng một người phụ nữ trẻ khác đang ở trong một chiếc máy khổng lồ, tôi có thể thấy bà ấy đang chịu sự héo mòn của tuổi tác, một luồng ánh sáng xuất hiện và dịch chuyển toàn bộ nguồn sức mạnh cùng với ý thức, suy nghĩ của bà ấy sang người phụ nữ trẻ kia. Một thân thể mới cho bà ấy đã được thiết lập, một vòng tuần hoàn mới bắt đầu và cứ như thế cho đến tận bây giờ…

Những hình ảnh này xuất hiện trong tôi quá nhiều và nó làm tôi gục xuống vì đau đầu một cách điên đảo. Tôi cố tháo chiếc nhẫn ra nhưng dường như nó đã dính chặt vào ngón tay tôi.

“Ta biết nó hơi choáng, chiếc nhẫn được tạo ra để chứa đựng và bảo quản các nơ-ron thần kinh lưu giữ những kí ức về cả một thời kì suốt hàng chục nghìn năm. Nó sẽ cho ngươi thấy những điều xảy ra trong quá khứ, những sự thật mà thế giới ngoài kia không bao giờ biết.”, Minerva nói với tôi.

Bây giờ tôi đã biết được lý do vì sao mình ở đây. Bà ta không cần tôi, vì một lý do gì đó mà cơ thể tôi có cấu trúc gen đặc biệt có thể thích nghi được với nguồn năng lượng hạt nhân như bà ấy vậy nên cơ thể tôi mới chính là thứ bà ta cần. Bà ta cần nó để có thể tiếp tục một cuộc sống mới, tiếp tục trị vì, tiếp tục duy trì những lời dối trá và che giấu tri thức khỏi mọi người.

Cả nhân loại đã bị màn kịch của họ che dấu suốt hơn mười nghìn năm qua. Đức tin của con người đã bị họ chơi đùa, họ không xứng đáng bị thế.

“Các người là kẻ dối trá, tri thức đã bị các người che dấu khỏi nhân loại. Đây chưa bao giờ là Kỷ Nguyên Ánh Sáng và bà sẽ không bao giờ có được thân xác của tôi.”, tôi cố gắng gượng dậy và nói với bà ta.

Minerva lộ rõ vẻ thất vọng, bà ta nghiêng đầu thở dài trước mặt tôi. Chỉ bằng một ánh nhìn, cơ thể tôi đã bị nhấc bổng lên trong không trung và bị ép dính chặt vào bức tường Pha Lê Đen.

Bà ta nói bằng một giọng đầy quỷ quyệt: “Ta biết việc này khó có thể chấp nhận nhưng ngươi nên cảm thấy vinh dự vì cơ thể của ngươi sắp trở thành một hình tượng vĩ đại đó. Sớm thôi, ta sẽ thế chỗ ngươi…!”.

Bà ta đưa cơ thể tôi lại gần bà ấy, một cỗ máy từ trên trần của của đại sảnh Pha Lê Đen hạ xuống, cả tôi và bà ấy đều đã ở bên trong một chiếc lồng của cỗ máy. Mọi thứ bắt đầu hoạt động, thứ năng lượng tách ra khỏi người bà ấy và dần dần chuyển sang tôi, cả cơ thể tôi bị ngập trong thứ năng lượng này, tôi khó thở, tôi cảm thấy nóng rát.

Mỗi giây trôi qua bà ta càng gần với tôi hơn, bà ta nói bằng một giọng đắc chí: “Thân xác ngươi là của ta!”.
Tôi muốn thoát khỏi điều này, tôi biết mình phải làm gì đó, ý chí tự do của tôi bắt đầu trỗi dậy, bằng chút sức lực cuối cùng tôi nhắm mắt thét lên: “Không…!”. Minerva hét lên đầy đau đớn, tôi mở mắt ra và thấy mình đã đâm bà ta bằng chính món quà bà ấy tặng, con dao hoàng kim đang găm thẳng vào lồng ngực của bà ấy.

Trong cơn đau đớn điên cuồng bà ta đẩy tôi văng ra khỏi chiếc lồng và phá hỏng cỗ máy. Nguồn năng lượng còn lại trong bà ta rò rỉ ra khỏi vết thương, con dao đã làm hỏng cấu trúc cơ thể bà ấy, bà ta không thể nào khống chế được nguồn phóng xạ. Từng tế bào trên cở thể bà ấy đang bị phân rã, cả cơ thể của bà ta nhuộm bởi ánh sáng màu vàng rực.

Bà ta chỉ kịp gào lên: “Ta nguyền rủa ngươi…!” trước khi bị tan biến trong đau đớn.

Một vụ nổ phóng xạ đã xảy ra làm đỉnh Tòa Tháp Tối Cao vỡ tan thành từng mảnh, những tia sáng phóng ra tứ phía kèm theo khói và bụi trước sự ngỡ ngàng của những người dân Vamia. Vụ nổ cũng đã làm cho các Hầu Cận bị thương nặng.

Tôi nằm ở rìa của tòa tháp, tự cảm thấy may mắn khi đã không bị rơi xuống. Tôi cố gắng đứng dậy, mặt tôi dính đầy bụi bặm, bộ dạng tôi hiện tại thật thảm khốc. Tôi dám cá rằng những Kẻ Giả Tạo khác đã nhìn thấy vụ nổ vừa rồi và chắc rằng họ biết chuyện gì vừa xảy ra. Liệu hành động tiếp theo của họ là gì?

Từ trên cao nhìn xuống Vamia, tất cả mọi người đang tập trung lại trước Tòa Tháp, những tiếng ồn là thứ duy nhất tôi nghe thấy. Tôi băn khoăn về việc sẽ kể lại câu chuyện này cho họ thế nào. Liệu họ sẽ tin vào những điều tôi nói chứ, họ sẽ chấp nhận sự thật hay vẫn sẽ đắm chìm trong những lời giả dối của những Kẻ Giả Tạo. Liệu họ có coi tôi như một người đem lại tri thức hay họ cùng với Đại Tư Tế Freya và các nữ tu khác sẽ khép tôi vào nghịch tội và xử tử tôi, bêu rếu tên tôi trên mọi con đường như một Kẻ Phản Thần…

HẾT

*LƯU Ý:

  • Điểm truyền thông: chiếm 40% tổng điểm, được tính dựa trên lượt react, comment và share của Bài Dự thi. Bài Dự thi hoàn thành sớm sẽ có quyền lợi về điểm truyền thông.
  • CÁCH THỨC TÍNH ĐIỂM: (Chỉ tính điểm khi đã like page)
  1. Like: 1 điểm/lượt
  2. Các cảm xúc khác: 2 điểm/lượt
  3. Share chế độ công khai (Public): 3 điểm/lượt
  4. Like (đối với bài viết trên website): 2 điểm/lượt
  • Thời gian đóng cổng bình chọn: 23h59′ ngày 11/08/2020
  • Ban Tổ chức không chịu trách nhiệm về tính chính xác của kiến thức thức khoa học được sử dụng trong Bài Dự thi.

[SCIENTIFACT #4]

ENGLISH

GIẢN ĐỒ PHA

Con người từ xa xưa đã luôn tìm hiểu và khám phá những điều xảy ra một cách tự nhiên. Một trong số những khám phá thú vị là sự chuyển hóa trạng thái của vật chất, điển hình là nước với sự chuyển hóa giữa thể đặc trưng rắn, lỏng và khí. Chắc hẳn ai cũng đã từng được quan sát sự bay hơi khi nước đang sôi, sự nóng chảy của viên nước đá ở nhiệt độ phòng hay nước đông đặc khi được đặt trong ngăn đá tủ lạnh. Đặc biệt hơn, có thể kể đến quá trình thăng hoa – chuyển đổi trạng thái trực tiếp từ thể rắn sang khí xảy ra ở đá khô (CO2) với nhiều ứng dụng trong cuộc sống. Trạng thái của nước hay vật chất nói chung được thể hiện trên giản đồ pha, thường đặc trưng bởi giá trị áp suất và nhiệt độ.

I. Pha là gì?

Pha là một vùng không gian mà các tính chất vật lý của vật chất đồng nhất. Các tính chất có thể kể đến là mật độ, chỉ số khúc xạ, thành phần hóa học. Theo cách khác, pha đặc trưng cho trạng thái của vật chất trong một điều kiện xác định. Một số pha cơ bản thường gặp là rắn, lỏng và khí.

Trước tiên, pha rắn là trạng thái vật chất có hình dạng cố định. Lúc này các phân tử ở vật rắn nằm sát nhau, chỉ dao động nhỏ quanh vị trí cân bằng, đồng thời vị trí tương đối giữa các phân tử ổn định trong không gian. Khi nhiệt độ tăng lên, dao động của các phân tử mạnh hơn khiến những tính chất trên mất đi, tạo điều kiện cho vật chất chuyển sang pha lỏng.

Ở pha lỏng, liên kết giữa các phân tử thiếu sự chặt chẽ dẫn đến hình dạng phụ thuộc vật chứa của chất lỏng, tuy vậy mật độ các phân tử vẫn tương đối ổn định. Tại trạng thái này gần như vật chất không bị nén bởi ngoại lực.

Trong khi đó, pha khí là trạng thái vật chất tồn tại dưới dạng tập hợp các nguyên tử hay phân tử hay các hạt nói chung trong đó các hạt có thể tự do chuyển động trong không gian. Lực tương tác giữa các phân tử rất yếu.

II. Có bao nhiêu pha có thể cùng tồn tại?

Ngoài những sự tồn tại riêng biệt của các pha rắn, lỏng, khí, vẫn có những điều kiện đặc trưng mà vật chất tồn tại ở nhiều hơn một pha. Cụ thể hơn, trong giản đồ pha P-T (áp suất-nhiệt độ), mỗi pha của vật chất được giữ ổn định trong một miền tách biệt. Sự chuyển giao giữa các pha được thể hiện bởi đường cong giao tuyến giữa hai trong ba miền, là tập hợp các điểm mà hai pha đôi một cân bằng nhiệt động lực học. Thật vậy, ở các điểm trên những đường cong này, hai trong ba pha của vật chất cùng xảy ra. Đặc biệt hơn, có những khái niệm thú vị mà ít ai biết đến như Điểm tới hạn và Điểm ba trạng thái.

Điểm ba trạng thái (Triple point) là điều kiện nhiệt độ, áp suât hoàn hảo cho sự cân bằng nhiệt động lực học của ba pha rắn, lỏng, khí của một chất. Trên giản đồ pha, điểm ba trạng thái là giao điểm của ba đường cong cân bằng, và điểm này là riêng biệt với mỗi loại chất khác nhau. Ở điều kiện đặc biệt này, ba pha rắn, lỏng, khí cùng xuất hiện. Trong các phòng thí nghiệm, nhiều phương pháp đã được đưa ra nhằm mục đích kiểm chứng khái niệm này. Sự chuyển đổi liên tục giữa các pha có thể quan sát được khi thí nghiệm với chất lỏng Cyclohexane (C6H12) như trong video tham khảo. Chất này được chứa trong bình có áp suất rất thấp sau khi hút chân không, ở điều kiện xấp xỉ 6.33°C và 5.388 kPa. Khi đó phần chất lỏng trên bề mặt đóng băng, ngược lại dưới đáy bình xảy ra hiện tượng sôi. Sự chuyển đổi giữa pha rắn, lỏng và khí xảy ra liên tục không ở trạng thái cân bằng. Thí nghiệm đã chứng tỏ có sự tồn tại cả ba trạng thái của chất.

Điểm tới hạn (Critical point) là điểm cuối cùng trên đường cong cân bằng, là điểm giới hạn mà có sự tồn tại của 2 pha tách biệt. Cụ thể hơn, khi vượt qua điểm tới hạn, ví dụ trên đường cong cân bằng pha lỏng-khí, nếu giá trị áp suất/ nhiệt độ vượt quá thì vật chất đạt đến trạng thái không thể phân biệt giữa pha lỏng và khí (Supercritical fluid), mang các tính chất hỗn hợp của hai pha này. Video tham khảo thứ hai đề cập đến thực nghiệm xung quanh điểm tới hạn lỏng-khí của CO2, cho ta thấy những hình ảnh về khái niệm thú vị này.

III. Các trạng thái đặc biệt mang lại những ứng dụng thực tế nào?

Với sự đặc biệt của tính chất điểm ba trạng thái khi xác định trên giản đồ pha, khái niệm này có một số ứng dụng thực tế trong đời sống. Tính chính xác rất cao của điểm ba trạng thái có nhiều lợi ích khi nghiên cứu nhiệt kế. Một số chất như neon, argon, nước, thủy ngân với độ tinh khiết gần như hoàn toàn ở điểm ba trạng thái có thể áp dụng để làm chuẩn nhiệt kế. Điểm ba của nước từng được dùng làm định nghĩa cho thang nhiệt độ Kelvin. Trước khi Lidar (phương pháp đo khoảng cách bằng tia Laser) được tin dùng, điểm ba trạng thái từng đóng vai trò hệ tham chiếu trong việc đo lường của tàu vũ trụ NASA Mariner 9 với nhiệm vụ nghiên cứu Sao Hỏa.

Điểm tới hạn cũng được áp dụng nhiều trong việc nghiên cứu khoa học. Thật vậy, việc tìm hiểu trạng thái lỏng của các chất khí như Hydro, Helium,… đã từng là một bài toán nan giải với các nhà khoa học lớn trong lịch sử. Dù có cố gắng bao nhiêu, họ cũng không thể nén lỏng những chất khí đó ở nhiệt độ phòng. Cuối cùng, họ tìm ra rằng cần phải hạ nhiệt độ xuống dưới điểm tới hạn để có thể nén hóa lỏng các khí trên. Ngoài ra nước ở trên điểm tới hạn tồn tại trong vỏ Trái Đất và đóng góp vào các quá trình địa chất xảy ra ở đó.

Tham khảo:

https://www.engineeringtoolbox.com/triple-point-d_1926.html

https://chem.libretexts.org/Bookshelves/Physical_and_Theoretical_Chemistry_Textbook_Maps/Supplemental_Modules_(Physical_and_Theoretical_Chemistry)/Physical_Properties_of_Matter/States_of_Matter/Phase_Transitions/Phase_Diagrams

Video thí nghiệm:

Phase diagram

People have long been searching for and discovering things that happened spontaneously. One of the intriguing discoveries is the change of state of matter: for example, water with its transition between typical phases, namely solid, liquid, and gaseous. Every one must have observed the evaporation when the water is boiling, the melting of ice cubes at room temperature, or water freezing when placed in the freezer compartment. Furthermore, there is the process of sublimation – a direct phase transition from solid to gas occurring in dry ice (CO2), which has many applications in life. The states of water or matter, in general, are expressed in phase diagrams, which are often characterized by pressure and temperature values.

I. What is a phase?

A phase is a region of space where the physical properties of matter are homogeneous. Some notable ones are density, refractive index, and chemical composition. In other words, a phase characterizes the state of matter under a given condition. Some common, basic phases are solid, liquid, and gas.

First, the solid phase is a state where the matter has a fixed shape. Usually, molecules of the solid object are close together, only fluctuating slightly around the equilibrium position. Simultaneously, the relative positions between molecules are stable in space. As the temperature increases, the vibrations of molecules become more vigorous, causing these properties to disappear, which enables the material to turn to its liquid phase.

In the liquid phase, the connection between the molecules lacks the tightness, which leads to the liquid’s shape depending on its container. However, the density of molecules is still quite stable. In this state, the matter is almost uncompressed by external forces.

Meanwhile, the gas phase is a state in which matter exists as a collection of atoms or molecules or particles, in general, in which they can freely move through space. The interaction force between molecules is very weak.

II. How many phases can coexist?

In addition to the separate existence of solid, liquid, and gaseous phases, there are also specific conditions where matter exists in more than one phase. More specifically, in the P-T (pressure-temperature) phase diagram, each phase of matter is kept stable in a separate domain. The transition between phases is represented by the intersection curve between two of the three regions, which is the set of points where the two particular phases exist in thermodynamic equilibrium. Indeed, at any point on these curves, two out of the three phases of matter exist together. Moreover, there are interesting concepts that are less known, such as Critical Point and Triple point.

The triple point is a condition with the “perfect” pressure and temperature for the thermodynamic balance of three phases of a substance: solid, liquid, and gas. On the phase diagram, the triple point is the intersection of three equilibrium curves, and this point is different for each substance. Under these special conditions, three phases of solid, liquid, and gas exist together. In laboratories, many methods have been developed to validate this concept. Continuous transitions between phases can be observed when experimenting with liquid Cyclohexane (C6H12) as shown in the reference video. The substance is stored in a very low-pressure vessel after vacuuming, at approximately 6.33°C and 5,388 kPa. In that state, the liquid on the surface freezes, whereas on the bottom of the flask, boiling occurs. The transition between solid, liquid, and gas phases occurs continuously without equilibrium. The experiment has shown that there exist all three states of substance.

The critical point is the last point on the equilibrium curve, which is the limit where two separate phases still exist. More specifically, when passing the critical point, for example, if the pressure/temperature value exceeds that on the liquid-gas phase equilibrium curve, the material reaches an indistinguishable state between the liquid and gas phase (Supercritical fluid), which has the mixed properties of these two phases. The second reference video deals with the experiment about CO2’s liquid-gas critical point, showing images of this fascinating concept.

III. What practical applications do special states provide?

With how special the triple point is when determined on the phase diagram, this concept has some practical applications in life. The high accuracy of the triple point has many benefits when it comes to thermometer research. Certain substances such as neon, argon, water, and mercury, which are almost absolutely pure at their triple points, can be applied as standard thermometers. The triple point of water used to be the definition of the Kelvin temperature scale. Before Lidar (a method for measuring distances by illuminating the target with laser light) became popular, the triple point used to serve as a reference system for the measurement of the NASA Mariner 9 spacecraft for its Mars research mission.

The critical point is also massively applied in scientific research. Indeed, understanding the liquid state of gases such as hydrogen or helium has been a dilemma for the great scientists throughout history. No matter how hard they tried, they could not compress those gases at room temperature. Eventually, they found that it was necessary to bring the temperature below the critical point to liquefy the gases. Also, water above the critical point exists in the Earth’s crust and contributes to the geological processes that occur there.

Reference sources:

https://www.engineeringtoolbox.com/triple-point-d_1926.html

https://chem.libretexts.org/Bookshelves/Physical_and_Theoretical_Chemistry_Textbook_Maps/Supplemental_Modules_(Physical_and_Theoretical_Chemistry)/Physical_Properties_of_Matter/States_of_Matter/Phase_Transitions/Phase_Diagrams

Experiment videos:

[Fragments of Science #4]

ENGLISH

Tôi đang ngồi chơi với chú chó của mình; nó tên là Su, thuộc một giống chó cảnh. Nghe có vẻ đáng lo nhưng tôi với nó đang bàn chuyện đại sự, kiểu như sao trời lại đang mưa. Tôi chẳng biết tại sao nữa, chỉ biết là tôi đang chán lắm rồi. Tôi với tay ra chuyển TV sang kênh “Động vật” lúc bấy giờ đang chiếu một chương trình về đời sống của chó sói. 

“Nè…”, tôi cất tiếng hỏi dù biết sẽ không ai trả lời, “Đấy cũng là em đúng không?”

“Đúng rồi đấy thưa chị.”

Có lẽ tôi đang mê sảng tới mức nói chuyện được với chó rồi.

Tôi chớp mắt, rồi bỗng thấy mình đang ở một khu rừng thay vì trong phòng khách. Đây là mơ à? Úi, con chó tôi nuôi còn đang biết đi nữa kìa, chó biết đi trong hoạt hình đẹp lắm mà sao nhìn ngoài đời thấy ghê thế. Su chào tôi, nói với tôi là “Đầu tiên em muốn cho chị xem đời sống của tổ tiên động vật nuôi chúng em ngày xưa. Chị muốn biết ngày xưa so với ngày nay là như thế nào không?”. Dù sao cũng là mơ thôi mà, tôi không ngần ngại đáp “Sẵn sàng!”.

Tôi vừa đi vừa nhìn, vừa nghe Su nói “Đây là nơi mà tất cả tổ tiên của bọn em sinh sống đấy”. Tôi đang được một con chó mở mang tri thức à? “A! Chị nhìn kìa!”. Tiếng gọi ấy làm tôi phải giật mình ngẩng lên xem, phóng tầm mắt ra xa. Tôi ngỡ ngàng… Trước mắt tôi là một bầy sói y như trong những quyển sách, chúng đang chạy thành đàn. “Đó là giống Husky Siberia, là tổ tiên loài Husky hiện đại đấy”. Tôi hỏi lại “Đây là chó chứ không phải sói à?”. Dường như hiểu được điều tôi thắc mắc, Su bắt đầu giảng giải. 

“Tổ tiên của loài chó bắt nguồn từ một loài động vật có vú gần giống như chồn sinh sống ở các hốc cây vào khoảng 400 triệu năm trước. Hậu duệ của loài này là một loài sói cổ ở châu Âu, đã từng sống trong khoảng 32100 đến 18800 năm trước. Bằng việc so sánh mẫu ADN từ các hóa thạch mà các nhà khảo cổ học tìm được, một nhóm nhà khoa học dẫn đầu bởi một nhà nghiên cứu Phần Lan cho thấy rằng loài sói cổ đã tuyệt chủng này là tổ tiên chung của cả loài sói hiện đại và loài chó. Những con sói Mỹ và châu Âu hiện đại chỉ là họ hàng rất xa của chó, mặc dù thực tế là DNA của chúng giống nhau tới 99%. Nghĩa là tổ tiên của chó không nhất thiết phải là chó đâu. Cái này cũng dễ hiểu mà, chị lại không biết à?” 

Ừ, xin lỗi vì tôi không biết gì. Tôi im lặng đi bên cạnh nghe Su nói liên hồi. “Tổ tiên của các loài thú nuôi khác cũng vậy thôi. Ví dụ như mèo hoang vùng cận Đông (Felis silvestris lybica) sống tại nơi mà ngày nay là Iraq, Syria, Lebanon và Israel, cừu hoang dã Mouflon, lợn rừng, loài thỏ Nuralagus,… đều là thế hệ trước của những loài thú nuôi hiện nay đó. Các loài này có năm đặc điểm về hành vi giúp chúng thích nghi tốt hơn với hướng tiến hóa thành thú nuôi. Đầu tiên, nhiều loài trong số chúng là động vật có tính xã hội, sống theo bầy đàn; khả năng chăm sóc, gắn bó với con non của chúng rất tốt. Chẳng những thế, từ khi sinh ra chúng đã có những bản năng thích nghi như tìm thức ăn hay di chuyển, cũng như chúng có thể tiêu thụ nhiều loại thức ăn khác nhau và dễ chống chịu, thích nghi với môi trường sống. Những cá thể trong cùng quần thể còn có những đặc điểm phong phú và khác biệt nhau khá nhiều, nhờ thế nên chọn lọc tự nhiên có thể hoạt động hiệu quả. Mà chỉ những cá thể mang đặc điểm phù hợp nhất với môi trường sống của chúng mới có thể thích nghi. Ngoài ra, con người cũng góp phần nào đó vào công cuộc tiến hóa này. Ví dụ như con người ở thời kỳ đồ đá đã thuần hóa loài sói, chó hoang, cho chúng thích hợp với việc khác ngoài săn bắt.” 

Tôi trầm trồ, cũng muốn tỏ ra mình hiểu một chút, “Những động vật hoang dã ngày xưa có thể thay đổi hành vi, tính nết mà trở thành bạn của con người như thế này cũng kì diệu thật.”. “Đúng là động vật chúng em hiện nay có nhiều tập tính đã thay đổi, thế nhưng những dấu vết từ ngày xưa vẫn còn đấy chứ. Tổ tiên chúng em chắc chắn cũng truyền lại những kinh nghiệm của mình cho đời sau mà.  Như là hành vi bắt mồi, rình kẻ thù chẳng hạn, hay một ví dụ rõ nhất là hành vi tập trung thành đàn của các loài trong họ chó sói. Ngày nay ta chỉ còn thấy tập tính này trong những đàn sói ở tự nhiên thôi nhỉ?. Nhưng, các giống chó hiện nay có các hành động thân thiết với con người, con vật khác cũng có liên quan đến việc trước kia tổ tiên của chúng đã tìm kiếm sự tin cậy, hợp tác ở các cá thể cùng loài. Chị chưa hiểu bằng cách nào hả? Em sẽ lấy một ví dụ về việc kiếm ăn để chị hình dung rõ ràng hơn cách kinh nghiệm của tổ tiên được truyền lại cho đời sau nhé. Hai trường hợp có thể xảy ra khi một con vật ăn phải thứ thức ăn không phù hợp với nó. Thứ nhất: nếu ăn xong nhưng con vật không chết mà chỉ bị bệnh hay cảm thấy khó chịu, thì nó sẽ học được rằng lần sau nên tránh xa loại thức ăn đó ra, không nên ăn nữa, và cũng không mang về cho con của nó. Con non nhìn thấy hành vi đó và cũng sẽ tránh xa loại thức ăn này giống bố mẹ, đó là phản xạ có điều kiện thôi. Trường hợp thứ hai, con vật ăn phải thức ăn và chết. Bản thân con vật phải mang các gen khiến nó bị hấp dẫn bởi loại đồ ăn đó, như các gen quy định sự yêu thích màu sắc và mùi của thức ăn chẳng hạn, thì nó mới bị loại thức ăn đó thu hút. Khi nó chết đi, các gen ấy của nó sẽ bị loại bỏ khỏi quần thể và không được truyền cho đời sau. Vậy nên các cá thể không bị hấp dẫn bởi loại đồ ăn đó có ưu thế tiến hóa hơn, và tần số gen đó trong quần thể theo thời gian sẽ giảm đi.” 

“Sự tiến hóa ở tổ tiên em và những loài khác cũng được thúc đẩy qua những tập tính xã hội và sinh sản. Với các loài tập trung thành bầy đàn, chúng có tổ chức riêng: có người đứng đầu luôn được ưu tiên, có kẻ yếu kẻ mạnh. Ngay từ mùa giao phối, ở những loài mà con cái có quyền lựa chọn thì chúng sẽ chọn bạn đời dựa vào vị thế, sức mạnh của đối phương, và những con đực còn có thể đánh nhau để được giao phối với con cái. Ngoài ra ở nhiều loại khác, nhất là các loài có tập tính xã hội, sống bầy đàn, con đực cạnh tranh khốc liệt để trở thành con đầu đàn, giành quyền lựa chọn bạn tình. Và có vẻ việc chọn lọc cá thể này dẫn đến sự thay đổi từ từ ở các cá thể qua từng thế hệ, điển hình như chó với chó sói ấy.” 

Tôi cười trừ: “Well, vậy còn chuyện gì xảy ra với những đứa con của chúng?”. “Nó được sinh ra và chăm sóc. Thì cũng giống như bình thường thôi, con con được bảo vệ, không cần tự đi tìm kiếm đồ ăn, và được nuôi dạy để trở nên giống bố hoặc mẹ nó. Nhưng lại có những loài như sư tử, đối với con con, kẻ thù đáng sợ nhất chính là những con đực trưởng thành. Để buộc con cái động dục sớm, con đực đầu đàn sẵn sàng giết chết con non trong đàn của nó.”

“Nếu so sánh thì tổ tiên của bọn em không khác lũ động vật hoang dã bây giờ là mấy đâu, chúng không tin, và cũng chẳng bao giờ gần gũi với con người. Nói chung cuộc sống khá tự do và tách biệt, dựa vào kinh nghiệm của chính bản thân hoặc đời trước truyền lại mà sống sót. Và sau đó thì…”, Su ngừng lại chút rồi nói tiếp, “Nếu chết đi, xác của chúng sẽ bị phân hủy hoặc bị động vật khác ăn, ví dụ như quạ mổ chẳng hạn”. Tôi khẽ rùng mình khi nhận ra sự khốc liệt này cũng là một phần của quá trình tiến hóa. Tổng kết lại về đời sống của chúng, sao tôi nghe mà thấy thảm thế. So sánh tuy hơi khập khiễng nhưng mà hình như nó giống giống với con người khi phải cạnh tranh nhau à?

Tôi cùng Su đi thêm một quãng đường dài, tôi được nhìn thấy rất nhiều khung cảnh mới lạ, không hẳn là đẹp nhưng ấn tượng. Tất cả đều ổn cho tới khi “Ouch!”, hay lắm, tôi vừa trượt chân rơi xuống một cái rãnh, bùn đất bám vào bắp chân rồi. “Haha chị làm cái gì thế” – một con chó đang cười nhạo tôi – nhưng rồi Su đột nhiên nói lớn “A, đây rồi!”. Và sau đó tầm nhìn của tôi lòa đi.

“Chị mở mắt ra đi”, nghe tiếng nói ấy, tôi cố lấy lại thăng bằng rồi mở mắt ra chậm rãi, và đoán xem? Trước mắt tôi là thành phố London. Tôi không giấu nổi sự ngỡ ngàng: “Uầy, đẹp thế”. Su cười mỉm với tôi “Hehe, giờ thì em với chị sẽ đến với cuộc sống của thú cưng nhé, đây là tầm mà trong khoảng thời gian này, việc nuôi thú cưng trở nên phổ biến đấy”. Và chúng tôi rảo bước trên con đường phẳng thoang thoảng mùi nhựa. “Động vật nuôi có thể gọi là kết quả của sự thích nghi, chọn lọc nhân tạo qua các thế hệ để chung sống, làm việc cho con người, chia làm ba vai trò chính: đồng hành – lấy sức kéo, lấy thực phẩm, làm nguyên liệu cho thủ công và công nghiệp. Như chị thấy, điều rõ ràng và dễ thấy nhất là ngoại hình của chúng đã thay đổi. Tất nhiên vẫn có những giống giữ lại được hình dáng của tổ tiên như Husky, cơ mà vẫn không phải tất cả, và đa phần đều thay đổi. Thường là chúng sẽ nhỏ đi, cấu tạo, kích thước cơ thể thay đổi theo vai trò thành như hiện giờ, và có xu hướng lành tính hơn, dù vẫn có vài con vì đặc thù công việc mà dữ dằn. Kiểu như thay đổi theo hướng con người mong muốn khi thuần hóa ấy. Dù không phải lúc nào như thế cũng tốt, đôi lúc đó là nguyên nhân gây ra các vấn đề sức khỏe ở sản phẩm lai như các bệnh về da, tim, thận, ung thư bạch huyết ở loài chó chúng em. Mặt bằng chung thì chúng lớn nhanh, trưởng thành nhanh hơn, dễ nuôi và dễ thích nghi, số lần sinh sản trong năm và số lượng con sinh ra mỗi lứa cũng nhiều hơn, và không khó khăn trong việc kiểm soát, tính cách thay đổi, hình như em có nói cái này trước đó rồi”. 

Tôi chợt thấy buồn cười: “Em đang giảng về chính mình đấy hả?”. Su nhìn tôi rồi tặc lưỡi, “Không, em đang cung cấp kiến thức cho chị đấy”. À ừ, cảm ơn nhé. “Động vật đã thuần hóa có các hành vi rất khác biệt, thậm chí còn đối lập hoàn toàn so với bản năng của tổ tiên hoang dã, các hành vi đó là để phục vụ con người, và bắt nguồn từ việc con người chăm sóc, thực hiện chọn lọc nhân tạo với động vật. Tiếp đó, đời con thừa hưởng từ bố mẹ các hành vi đó, giúp ích cho sự hợp tác với con người. Rõ ràng là từ khi sinh ra, những đứa con đã luôn được bảo vệ và yêu thương hết mực, cái chúng được bố mẹ dạy là cách sống với con người chứ không phải trong tự nhiên, rồi những đứa con ấy cũng do con người chăm sóc, nên hiển nhiên sẽ sinh ra hành vi giống như nghe lời, phục tùng. Khi còn nhỏ thì chúng sống với anh chị em, như có đàn ấy, nhưng rồi sau đó bị tách ra thì vẫn có thể sống bình thường. Thời nay không có đồng loại ở bên, chúng vẫn có thể xoay xở sống được. Cách sống của chúng sau đó tùy thuộc vào từng loài thôi. Nhưng nếu phải quay trở lại tự lực cánh sinh thì tất nhiên bản năng kiếm mồi sẽ thức dậy, như kiểu gà, bò, cừu bị bỏ rơi sẽ phải tự tìm thức ăn, tự bảo vệ mình khỏi kẻ thù”. 

Nghe đến đây tôi có nhiều suy nghĩ nhưng cũng không biết cần nói gì, nên im lặng nghe Su nói tiếp. “Cuối cùng tất cả khi đã tiến hóa và thay đổi đến nhường này, thật sự không còn giống tổ tiên tí nào, thì chắc chắn là do con người rồi nhỉ? Các chị khiến cuộc sống của bọn em trở nên dễ dàng và đầy đủ hơn rất nhiều. Dù đôi lúc cũng có ai đó trong chúng em nghĩ đến chuyện mất dần đi từng tập tính nguyên thủy như thế này thì có ổn không, nhưng rồi cũng chẳng ai trong chúng em đủ can đảm để rời bỏ cuộc sống hiện tại.. Vì sau cùng, tuy không phải tất cả các loài đều thế, nhưng em chỉ biết là do em đã quá yêu con người”.

Aa… tôi nghĩ tôi đã thấy Su cười, cũng không phải đẹp lắm đâu nhưng đáng yêu, tôi định đáp trả nhưng đột nhiên tầm nhìn lóa đi, tôi không nói được gì nữa.

“Gâu! Gâu!”

Tôi giật mình khi nghe thấy tiếng kêu quen thuộc ấy. Mở mắt, tôi thấy mình đang nằm dưới sàn nhà, Su ngồi bên cạnh vẫy đuôi, TV đã chuyển sang chương trình khác từ lâu. Tôi cười nói “À… Su, chuyến đi kết thúc rồi à?”, nhưng nó nhìn lại tôi và không nói gì. Đây chắc là do tác dụng của việc học quá nhiều đấy, tôi cũng chịu bản thân khi nói chuyện với một con chó.

“Haha, thôi đi nấu cơm”, khi nói vậy, tôi đứng lên, nhưng mà… “Hmm?”. Có cái gì dính ở bắp chân tôi, ướt và nhầy; tôi quay lại nhìn và sờ thử thì thấy đó là bùn. Có bùn dính ở bắp chân tôi, dù tôi ở trong nhà từ sáng đến giờ?

I was sitting with Su – my toy dog. It may sound concerning, but I was talking to him about something really serious, like why it’s raining. I had no idea why I was doing it, probably because I was so bored. I reached out to switch the channel to “Animal”, which, at the time, was showing a program about the life of wolves.

“Hey …”, I asked despite knowing that no one would answer, “Is that you too?”

“That’s right ma’am.”

Perhaps I was so delirious that I could talk to dogs.

I blinked, then suddenly found myself in a forest instead of in my living room. Was this a dream? Oops, the dog I raise could walk, which looks way more creepy than the adorable image animations depict. Su greeted me and told me, “First, I want to show you the life of our domestic animal ancestors in the past. Do you want to know how the past differed from today?”. It’s a dream anyway, so I didn’t hesitate to say, “Ready!”.

I walked and watched, listening to Su’s words, “This is the place where all our ancestors lived”. Was my dog giving me a lecture? “Ah! Look at that!” The call made me startled and looked up, looking far away. I was astonished… A pack of wolves was running together in front of me, just like in books. “That’s Siberian Husky, the ancestor of modern Husky.” I questioned, “Are they dogs, not wolves?” Seeming to understand what I was wondering, Su started to explain.

“The dog’s ancestor originated from a mink-like mammal that lived in tree cavities about 400 million years ago. The descendant of this dog was an ancient wolf in Europe. By comparison of DNA samples from fossils found by archaeologists, a team of multinational researchers has shown that the now-extinct ancient wolf is the shared ancestor of both modern wolves and dogs. Modern American and European wolves are only very distant relatives of dogs, even though their DNA is 99% similar, which means that the ancestor of dogs is not necessarily a dog. This is understandable, don’t you know?”

Yes, sorry because I don’t know anything. I silently walked beside Su and listened to its never-ending monologue. “The same is true for the ancestors of other pets, too. For example, the wildcat of the Near East (Felis silvestris lybica, which lived in what is now Iraq, Syria, Lebanon, and Israel, the Mouflon), the wild sheep, the wild boar, the Nuralagus rabbit, and so on are all past generations of pets. These species have five behavioral traits that enable them to adapt better to their evolution into pets. First of all, some of them are social animals living in groups; their ability to take care of and stick with their youngsters is excellent. Moreover, they are born with adaptive instincts, such as finding food or moving, as well as consuming a variety of foods, which make them resistible and adaptable to the environment. Each individual in the population also has rich and different characteristics. Thanks to that, natural selection can work effectively, since only individuals with the most appropriate characteristics to their environment can accommodate. In addition, humans have also contributed to this evolution. To illustrate, people in the Stone Age domesticated wolves and wild dogs, making them suitable for things other than hunting.”

I admired, also wanting to look like I had understood a little bit, “The fact that ancient wild animals could change behaviors and characters to become friends of people like this is also marvelous.”. “We animals indeed have changed myriad behaviors today, but the traces from the old days still exist. Our ancestors certainly passed on their experiences to their descendants, like the act of catching prey, stalking enemies, or the best example is the behavior of gathering in groups of wolves, which probably can only be seen now among wild wolves. However, modern dog breeds that have a close relationship with humans or other animals are also involved in how their ancestors sought trust and cooperation in individuals of the same species in the past. You must be wondering how. I will give an example of foraging so you can more clearly envision how the ancestor’s experience passed on to the next generation. Two cases can occur when an animal eats food that does not match it. If the animal finishes eating and it does not die, but only gets sick or feels uncomfortable then it will learn to avoid and not consume the food anymore. Consequently, it will never bring that food back to its offspring. The young observe that behavior and will also avoid this kind of food like their parents, which is a conditioned reflex. In the second case, the animal eats the food and dies. The animal itself has to carry the genes that make it drawn to the food, such as genes that dictate how it prefers the color and smell of food, for example, to be attracted to that food. When it dies, its genes will be removed from the population and not passed on to the next generation. Hence, individuals who are not attracted to harmful food have an evolutionary advantage, and the frequency of the gene in the population over time will decrease.”

“The evolution of my ancestors and other species was also driven through social and reproductive habits. With the species concentrated in herds, they have their own organization: the head always has priority, and there is a disparity in power among a group. Right from the mating season, in the species that the female has the right to choose, she will choose a partner based on the position and the strength of the opponent, and the males can still fight to be mating with females. In many other species, especially social, living-in-group ones, the males compete fiercely to become the leader and gain the right to choose mates. Apparently, this individual selection has resulted in a gradual change in individuals over generations, notably in dogs and wolves.”

I smiled wryly: “Well, what happened to their children?”. “It was born and taken care of. It’s just like normal, cubs are protected, don’t have to look for food themselves, and are raised to be like their parents. Nonetheless, there are species like the lion: to the offspring, the scariest enemy is the adult male. To force the female to get oestrus early, the male can even kill the young in his pack.”

“In comparison, our ancestors are no different from wild animals nowadays: they didn’t believe or stay close to humans. In general, life is quite free and isolated: they survived by practicing their own experience or that of their previous generations. And then… “, Su paused for a bit and continued, “If they die, their bodies will be decomposed or eaten by other animals – crows, for example.” I slightly shuddered when realizing this fierceness is also part of evolution. Such a tragic summary of their lives! The comparison is a bit off, but does it seem similar to humans when competing?

I went with Su a long way and saw a lot of new scenery – not really beautiful but impressive. Everything was fine until “Ouch!”. Great, I just slipped and fell into a ditch – mud stuck to my calves. Su almost died laughing, “What are you doing?” – a dog was laughing at me – but then Su suddenly shouted, “Ah, here it is!”. And then my vision blurred.

“Open your eyes”. Hearing that voice, I tried to regain my balance and opened my eyes slowly. Guess what? London, right in front of me. I could not hide my surprise: “Wow, so beautiful”. Su smiled at me and said, “Hehe, now we will come to the pet’s life. Pet raising became popular during this time.” And we walked down the flat, full-of-asphalt-smell road. “Livestock can be called the result of adaptation and artificial selection over generations to live, work for humans, divided into three major roles: companion (which means animals being the pulling forces), food, and materials for handicrafts and industry. As you can see, the most obvious and prominent is that their appearance has changed. Of course, there are still species that retain the shape of ancestors like Husky. However, most of them changed: usually, they would get smaller – their structure and body size would alter depending on the role they are now – and tend to be more benign, even though there are some fierce ones due to their work characteristics. We can say that they change the direction people want when tamed. Nonetheless, such changes are not always good: sometimes, they are the cause of health problems in the crossbred like skin, heart, kidney, and lymphoma diseases in dogs. In general, animals would grow and mature faster and are easier to be raised and adapt. The number of reproductive times per year and the number of cubs each time also grow every time. Plus, there is no difficulty controlling or changing, which I seem to have said about before”.

I suddenly found it funny: “Are you lecturing about yourself?”. Su looked at me and clicked its tongue, “No, I’m providing you with knowledge”. Oh yeah, thanks. “Domesticated animals have very different behaviors, which are even in stark contrast to their wild ancestors’ instincts as they are in the service of humans and rooted in how people take care of and develop artificial selection in animals. After that, the young take after their parents’ behaviors, which help them to cooperate with humans. It is clear that from the time they were born, the young have always been fully protected and loved. Their parents only taught them how to live with people, not in nature, and those young are later also cared for by humans, so obviously, they will develop behaviors like obeying orders. When they are young, they live with their siblings, as if having a herd, but they could still live a normal life, separating from each other. Today, they can manage to live without their same-species. Their lifestyles after separating depend on the species. But if they have to go back to the life of living on their own, of course, their instinct for prey will wake up, like the way abandoned chickens, cows, or sheep will have to find food and protect themselves from enemies. “

I thought a lot but wasn’t sure what to say, so I kept silent and listened. “In the end, after all the evolution and changes, we are now really unlike our ancestors. Is it definitely because of humans, isn’t it? You guys made our lives much easier and more abundant. Although sometimes some of us wonder if it’s really okay to gradually lose our original behaviors like this, none of us is brave enough to leave the present life… After all, not all species are like that, but I only know that I’m too in love with humans”.

Ahh… I thought I saw Su smile; it’s not that beautiful, but it was cute. I was about to respond, but suddenly, my vision went blurred again, and I couldn’t say anything more.

“Woof! Woof!”

I was startled when I heard that familiar bark. Opening my eyes, I found myself lying on the floor; Su sat beside me, wagging its tail, and the TV had switched to another program long ago. I laughed and said “Ah… Su, is the trip over?”, but he looked back at me and said nothing. This was probably the effect of too much studying: I also had no idea what to say about myself; I mean I was talking to a dog.

“Haha, let’s start cooking”, I said to myself and stood up, but… “Hm?”. Something stuck to my calves – wet and sticky; I turned back to look and felt it: mud. There was mud on my calves, even though I had been in my house since morning?

[4. Wireless]

ENGLISH

Vẫn chưa hết bàng hoàng vì thất bại hôm qua, tôi đi loanh quanh trong nhà suy nghĩ về những gì mình đã làm. Thậm chí mình còn chẳng tác động được tí nào đến quy trình khám phá của Edison, chưa nói gì đến ngăn chặn! Đèn điện, thứ mang lại ánh sáng cho hàng tỉ người, giờ lại đang phủ tối suy nghĩ của tôi. Trong cơn tức giận bộc phát, tôi vớ lấy cái điều khiển nhà để tắt phụt tất cả đèn trong nhà với một nút bấm.

Tôi chợt dừng lại. Mình vừa làm gì thế nhỉ? Dùng điều khiển từ xa. Cái này quá phổ cập rồi, nhà cũ của tôi cũng có. Phải, mọi người đều coi nó là một vật tầm thường, rẻ tiền để điều khiển toàn bộ ngôi nhà của mình. Nhưng nếu không có nó thì sao? Tôi tự hỏi…

Không, không nên suy nghĩ theo hướng đó. Hãy bắt đầu từ gốc rễ của vấn đề. Nguyên lí của điều khiển từ xa là gì? Truyền sóng radio không dây, tất nhiên rồi. Các nhà khoa học đã thực hiện được kỹ thuật này lần đầu vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, đến đầu thế kỉ XXI thì phổ biến dưới dạng truyền thông tin qua Wifi, vệ tinh,…Và giờ đây, thế kỉ XXII, nó được nâng cấp thành phương thức truyền tải năng lượng chính giữa Trái Đất và các vệ tinh năng lượng mặt trời, cũng như giữa nguồn điện và rất nhiều thiết bị điện hàng ngày thay cho đống dây rợ lòng thòng đáng sợ trước kia.

Rõ ràng truyền tải không dây đóng một vai trò cực kì quan trọng trong cuộc sống loài người và sự xâm lấn của công nghệ vào thế giới hàng ngày. Nếu hủy diệt được bước tiến kĩ thuật này, chắc chắn tôi sẽ thay đổi hoàn toàn lịch sử và làm chậm đi những bước tiến khổng lồ của khoa học kĩ thuật trong suốt 200 năm qua.

Maxwell chứng minh sự tồn tại của sóng điện từ bằng lý thuyết vào năm 1864, Hertz phát và thu được sóng điện từ lần đầu năm 1887. Tuy nhiên, phải nhờ có Guglielmo Marconi, giành giải Nobel Vật lý năm 1909 cho “đóng góp của [ông] vào sự phát triển của điện tín không dây”, thì truyền tải không dây bằng sóng điện từ mới thực sự trở thành khả thi về mặt kĩ thuật và thương mại.

Marconi thân mến, cho tôi xin lỗi trước nhé.

***

Bologna, Italy, 1895.

Nhà Marconi. Trong suốt năm 1895, đây là nơi Marconi đã thử nghiệm với nhiều cấu hình máy thu phát tín hiệu khác nhau. Từ những máy đơn giản đã được thiết kế trước đó, ông đã dần dần tự mày mò những thiết kế nhạy hơn và cho phép ghi lại tín hiệu dưới dạng mã Morse. Một máy phát là một mạch dao động gồm có tụ điện (tích trữ năng lượng điện) và cuộn dây (tích trữ năng lượng từ). Do thiết kế, mạch này không kín mà dao động của dòng điện và hiệu điện thế trong mạch này thất thoát ra ngoài dưới dạng bức xạ điện từ quen thuộc. Bức xạ này truyền đến đầu thu và được ghi lại thành tín hiệu điện. 

Tôi có thể làm gì để cản trở những thí nghiệm này đây? Nhớ lại những lần trước, tôi thường hoạt động một mình. Nhưng giờ tôi đã biết một mình tôi là không đủ sức để chống lại sức mạnh của bộ não của những con người như thế này. “Để đi xa, hãy đi cùng nhau.” Có lẽ tôi nên nghe theo câu nói này chăng? 

Thế là tôi sống toàn thời gian tại ngôi làng của Marconi từ đầu năm 1895, hòa nhập với cộng đồng và báo chí địa phương. Chúng tôi thường xuyên có những cuộc nói chuyện về thí nghiệm của Marconi. Đó là một điều mới lạ đối với người dân, nên họ có vẻ thích thú.

“Nó có thể liên lạc từ xa không dây à? Nghe hay đấy chứ. Nếu mưa bão phá hủy đường dây điện thì mình vẫn liên lạc được với nơi ở xa. Có thể cứu nhiều mạng sống đấy!”

Thiết kế có lẽ là đột phá của Marconi hoàn thành vào tháng 8, khi ông đặt bộ phát và bộ thu ở trên cao và kết nối với mặt đất. Điều này tạo ra một tụ điện lớn, làm tăng năng lượng sóng và giảm tần số, tăng bước sóng. Bước sóng lớn giúp tín hiệu truyền xa hơn và đi vòng quanh các vật cản nhỏ hơn, giúp việc liên lạc trở nên khả thi hơn rất nhiều.

“Marconi hôm qua đã thực hiện truyền tín hiệu giữa hai điểm bị chắn bởi một ngọn đồi. Trợ lý của ông đã bắn ba phát súng để báo hiệu đã nhận được tín hiệu. Đây có lẽ là một bước tiến lớn hướng đến việc truyền sóng radio” – Báo địa phương

Tình hình này không được. Tôi phải bẻ lái dư luận. Nếu người dân phản đối, báo chí phản đối thì Marconi khó mà tiếp tục được thí nghiệm, dù ông ta có thiên tài đến mức nào đi chăng nữa. Phải, họ sẽ đập phá thiết bị của ông ta và có khi còn đuổi ông ta ra khỏi làng chứ chẳng đùa! Thế là tôi bắt đầu chiến dịch tin giả của mình. Những lời nói vu vơ với nhiều người khác nhau, một bài báo ẩn danh trên tờ báo địa phương. Thật đơn giản.

“Làm sao ông ta liên lạc được xa thế nhỉ? Chắc là phải tốn nhiều năng lượng, điện thế phải cao lắm. Liệu điều đó có đủ để tạo ra sét đánh trong không khí không? Nếu có sét thì nguy hiểm phết nhỉ. 100 volt là đủ tạo ra dòng điện chết người rồi đấy!”

“Ông ta liên lạc bằng sóng điện từ phải không? Vậy cái thứ sóng đấy sẽ ngập tràn trong không khí. Nhưng nó có hại cho chúng ta đấy! Người ta nói rằng sóng làm giảm hệ miễn dịch của ta, làm ta dễ mắc cúm hay các bệnh khác hơn!”

“…Sự kiện tháng trước khi Marconi thực hiện truyền sóng giữa khoảng cách 2.4km vẫn đang thu hút sự chú ý lớn của người dân địa phương. Tuy nhiên, một số chuyên gia cho rằng sóng điện từ từ những thí nghiệm này có thể gây ảnh hưởng không tốt đến cuộc sống thường ngày… Một số người dân đã quyết định sẽ cùng nhau lên tiếng phản đối những thí nghiệm kì quặc này tại nhà ông Marconi vào thứ bảy tới.” – Báo địa phương

Con người rất dễ dao động và tin vào những tin đồn giật gân, thay vì bình tĩnh suy xét sự việc bằng lí luận logic. Thật vậy, những lời đồn thổi và bài báo của tôi đã lôi kéo được một đám đông vài chục người đến nhà Marconi vào ngày đã hẹn, tất cả đều nghĩ rằng mình chỉ đang làm theo một số người khác. Kết quả ư? Mỹ mãn.

“Ra đây, Marconi!”

“Ông định giết hết chúng tôi à, Marconi!”

“Dừng những thí nghiệm kì quặc này lại, Marconi!”

“Mọi người, xông vào!”

Đứng từ một khoảng cách, tôi trông thấy Marconi cố hết sức giải thích cho đám đông phẫn nộ: “Những thí nghiệm của tôi là hết sức an toàn, mọi người ở khoảng cách lớn; ngoài ra một số thiết bị còn có lưới chắn điện, chắc chắn không có nguy hiểm gây sét đánh hay gì đâu. Hơn nữa, năng lượng sóng này rất bé so với ánh sáng bình thường, chỉ nếu tiếp xúc ở cường độ rất lớn mới có thể làm nóng cơ thể và gây hại thôi. Các vị chắc chắn không gặp vấn đề gì đâu, nếu có hại thì tôi mới là người có nguy cơ cao chứ!”

À thì, tất nhiên là ông ta nói đúng. Bước sóng ông ta sử dụng toàn vào cỡ hàng mét trở lên, năng lượng tổng đến được cơ thể chắc chắn nhỏ hơn rất nhiều so với năng lượng đó của lò vi sóng hiện đại. Cơ mà những người dân chưa biết tí gì đến tương lai, nơi sóng radio hiện diện xung quanh con người, làm sao mà tin vào những lời giải thích này được, một khi họ đã nghi ngờ và sợ hãi.

“Thôi được rồi, tôi sẽ dừng những thí nghiệm của mình lại. Tôi sẽ làm theo lời các anh!”

Chờ đã. Tôi đã thành công rồi sao? Không thể dễ dàng thế được! Tôi hồi hộp theo dõi và chờ đợi trong hàng tuần liền. Marconi suốt một thời gian im lìm trong nhà, không thấy ra ngoài làm thí nghiệm nữa…

Đùng một cái, vài thùng hành lý to tướng xếp đầy trong sân nhà Marconi. Ộng ta tuyên bố mình sẽ đến Anh.

Thôi thì, ít ra tôi cũng thắng một keo – đuổi được ông ta ra khỏi quê nhà thân thuộc với sự ủng hộ của mọi người. Giờ tôi phải đi Anh theo ông ta đây. Ai mà biết được ông ta sẽ làm gì ở vùng đất mới đó?

***

1901

Trên chuyến tàu vượt Đại Tây Dương

Sau hàng loạt lần “công diễn” ở Anh, Marconi đã nhận được sự chú ý lớn và tiền tài trợ cũng lớn không kém. Năm 1899, ông ta đã thành công trong việc truyền tin qua eo biển Manche ngăn cách Anh và Pháp. Nhưng bước đột phá truyền thông đến vào năm 1901, năm ông ta thực hiện lần truyền tin lịch sử xuyên Đại Tây Dương. 

Tôi đăng ký làm trợ lý riêng cho Marconi trước đó vài tháng. Rút kinh nghiệm từ những lần trước, điều này sẽ giúp tôi tiếp cận trực tiếp, nói chuyện hàng ngày với nhà phát minh, từ đó gây ảnh hưởng lên ông ta. Tôi sẽ xoáy vào điều mà rất nhiều nhà khoa học cùng thời cũng lầm tưởng: sóng radio không thể truyền quá xa do độ cong của Trái Đất.

Marconi tin vào điều ngược lại và quyết tâm thực hiện thí nghiệm chứng minh rằng sóng radio có thể được thu nhận xuyên Đại Tây Dương – khoảng cách lên tới 3500km. Dù vậy, ông ta không có cơ sở lý thuyết nào cho niềm tin này. Thật vậy, phải đến năm 1925, các nhà khoa học mới tìm ra bằng chứng về tầng điện li của khí quyển Trái Đất, thứ, cùng với bề mặt Trái Đất, phản xạ lại các sóng vô tuyến, trong khi sóng vẫn truyền đi theo phương ngang, giúp sóng có thể truyền vòng quanh Trái Đất.

Hiện tôi đang đi cùng Marconi trên chuyến tàu vượt Đại Tây Dương đến Mĩ để thực hiện thử nghiệm. Đúng vậy, thời gian tới cuộc thử nghiệm lịch sử này có lẽ chỉ còn tính bằng tháng, thậm chí là tuần. Phải tác động ngay thôi.

Sáng sớm một ngày trời quang đãng, tôi thấy Marconi đang đứng bên lan can ngắm cảnh bình minh trên biển như để thư giãn sau một đêm tranh luận đầy mệt mỏi với các trợ lý kĩ thuật về các trở ngại trong việc nhận tín hiệu. Có lẽ đây là thời điểm tốt để tôi nói chuyện với ông ta?

“Thưa ông, tôi nghĩ điều này là bất khả thi. Ông định dùng bước sóng gần 400m, thì nó chỉ có thể đi vòng qua vật cản có độ lớn cỡ đấy thôi chứ? Nó làm sao vòng qua được hàng nghìn kilomet của Trái Đất?”

“Tôi tin rằng việc kết nối các thiết bị với Trái Đất sẽ giải quyết được vấn đề này. Có lẽ Trái Đất sẽ tham gia vào mạch điện.”

Tôi biết rằng độ hấp thụ của Đại Tây Dương đối với sóng điện từ là rất lớn, nên điều này thực tế là không thể được. Sao ông ta lại sẵn sàng đánh cược vào lời giải thích này nhỉ?

“Ông nên tập trung vào phát triển thương mại cho các trạm phát sóng tầm trung bình và ngắn, đặc biệt là ở châu Âu. Chắc chắn thị trường sẽ rất lớn. Theo đuổi phát sóng dài vừa tốn công sức, tiền của, thời gian, lại làm mất hình ảnh trong công chúng. Tôi chân thành khuyên ông không nên làm thế!”

“Anh này, anh là một thư kí và quản lý rất tốt, nhưng anh chưa có được tinh thần của một nhà khoa học rồi. Chúng ta chưa hiểu rõ về cơ chế của việc truyền tín hiệu đi xa, nên không có kết luận lý thuyết nào là đáng tin cả. Chỉ có thực nghiệm mới cho ta câu trả lời! Nếu không thử thì sao ta có thể biết được?”

Những lần nói chuyện sau cũng tốn công vô ích. Tuy ông ta không phàn nàn gì tôi (đấy là ngoài mặt, còn trong lòng chắc cũng phải khó chịu với một thằng suốt ngày lảm nhảm ý kiến trái ngược với mình chứ), nhưng ý định của ông ta có vẻ không tài nào lay chuyển được. Có lẽ ông ta có linh cảm của một thiên tài? Linh cảm, đi cùng với đam mê và quyết tâm đẩy công nghệ của mình vượt qua giới hạn của nó. Tôi cũng phải công nhận là đáng khâm phục. Phải tạm dừng thôi, nếu không ông ta có khi cho tôi ở lại hậu phương luôn trong cuộc thử nghiệm sắp tới ấy chứ!

***

Newfoundland

Thời tiết đã phá hủy thiết bị của trạm sóng ở Cape Cod, vì vậy Marconi quyết định mang dụng cụ thu sóng đến St. Johns’, Newfoundland. Tôi cũng đi cùng ông ta với tư cách trợ lý. Tuy nhiên, mục đích thật sự của tôi lại là thu thập bằng chứng giả để loan tin rằng ông ta đã không bắt được tín hiệu thực sự. Kế hoạch lần này chắc chắn sẽ thành công y như lần trước.

Tôi ngước nhìn lên bầu trời Newfoundland. Ở đâu đó trên kia (hơn 80km thì phải, tôi không giỏi thuộc số liệu!) chính là tầng điện li, cái sẽ đem lại thành công cho Marconi (tạm thời thôi). Trên đó, bức xạ Mặt Trời và tia vũ trụ đang không ngừng tấn công, bắn phá các phân tử khí, làm bật ra cả các điện tử, còn gọi là electron. Lớp plasma được tạo thành có chiết suất nhỏ (nhỏ hơn 1!) với sóng vô tuyến dẫn đến hiện tượng phản xạ mạnh ngược trở lại không khí cho các bước sóng radio lớn. Vật lý nhiều lúc thật đẹp đẽ và đơn giản.

Quay về với thực tại, tôi phải đối mặt ngay lập tức với đống dụng cụ cồng kềnh để thu sóng. Vâng, Marconi và trợ lý George Kemp sẽ thả diều để đưa bộ thu sóng lên! Họ còn phải dùng bộ thu sóng thô sơ hơn dự tính, do gió làm ảnh hưởng mạnh đến tính ổn định của thiết bị. Vào 12h30 ngày 12 tháng 12 năm 1901 giờ địa phương, Marconi thông báo đã nhận được tín hiệu (chỉ là ba dấu chấm, mã Morse cho chữ cái S). Đã thế, do thời tiết xấu, ông ta không mời được ai độc lập với nhóm nghiên cứu để kiểm chứng. Cuối cùng là thời gian truyền tải vào buổi trưa. Truyền tải vào ban ngày có tầm xa thấp hơn nhiều so với ban đêm, vì tác dụng ion hóa mạnh của ánh sáng Mặt Trời so với các tia vũ trụ vào ban đêm làm tầng điện li trở nên dày và đặc hơn, ảnh hưởng xấu đến khả năng phản xạ sóng vô tuyến. Cảm ơn nhé, các ông làm công việc của tôi dễ hơn nhiều, khi chính tôi cũng  tin vào điều tôi sẽ nói.

Sau khi tin tức về sự kiện ở Newfoundland lan truyền đi, cộng đồng các nhà khoa học và cộng đồng thế giới hết sức ngỡ ngàng và không ngừng hoan hô Marconi. Thế nhưng, chỉ sau một vài ngày, xuất hiện một bài báo chỉ ra rằng tín hiệu mà Marconi nhận được thật ra chỉ là nhiễu loạn của khí quyển. Hơn nữa, bài báo này còn có bằng chứng từ trợ lý riêng của ông ta. Người trợ lý này kể chi tiết về quá trình thiết đặt dụng cụ thô sơ và thời tiết xấu ngày hôm đó, cũng như sự không chắc chắn trước đó của Marconi về sự thành công của thí nghiệm và nhiều “bằng chứng” khác. Ông này dùng kinh nghiệm nhiều tháng ở bên Marconi để khẳng định rằng thí nghiệm này thực tế chưa thành công. Ông cũng thông báo ông đã xin nghỉ công việc của mình.

Sau bài báo của tôi, cộng đồng khoa học dấy lên nhiều nghi ngờ. Thế nhưng, tôi lại cảm thấy có chút bứt rứt. Sau nhiều tháng làm cho Marconi, tôi nhận thấy được khả năng làm việc hết sức chăm chỉ cũng như tài lãnh đạo và sự trầm tính của ông. Có lần tôi còn được nghe ông đánh piano, thật sự là khá hay. Đến lúc kế hoạch đã thành công tôi mới nhìn lại. Nhưng tôi còn có thể làm gì khác? Thôi, tôi đành hi vọng rằng ông sẽ không hoàn toàn suy sụp.

Quả thật, Marconi không có phản ứng gì mạnh mẽ. Vốn tính ông là thế mà, luôn khiêm tốn và bình tĩnh xử lý mọi việc.

Thật vậy, hai tháng sau…

Marconi thông báo về chuỗi thử nghiệm đo đạc tín hiệu trên tàu SS Philadelphia với dữ liệu thu thập tại nhiều vị trí thể hiện độ tin cậy, đồng thời thể hiện rõ sự chênh lệch giữa khoảng cách truyền ngày và đêm.

Từ cuối năm 1902, những bức thư hoàn chỉnh đã bắt đầu được gửi xuyên Đại Tây Dương. Marconi cũng đã phát triển một dụng cụ thu sóng mới, gọi là cảm biến từ (magnetic detector), nhạy và tin cậy hơn dụng cụ cũ nhiều. Cộng đồng khoa học và xã hội đã quay lại ủng hộ Marconi. Tôi cũng không nghĩ ra cách nào để đảo ngược tình thế…

***

Con lại một lần nữa thất bại rồi… Không thể lay chuyển linh cảm và quyết tâm của nhà phát minh, còn tung tin giả và dựa vào truyền thông cũng không có hiệu quả dài lâu. Những thành tựu vĩ đại rồi cũng sẽ tự chứng minh cho chính nó. Một keo nữa tâm phục khẩu phục.

Giờ đây, tôi lại quay về với điểm xuất phát. Phải làm gì để đảm bảo lần sau thành công đây?

Tôi thở dài, bật kênh tivi cho người hoài cổ để nghe những bản nhạc xưa cũ. Hôm nay bài gì đây? Radio Ga Ga – Queen. Bài này hay đấy.

*Nguồn:

Click to access marconi-lecture.pdf

https://www.britannica.com/biography/Guglielmo-Marconi

https://www.nobelprize.org/prizes/physics/1909/marconi/biographical/

https://en.wikipedia.org/wiki/Invention_of_radio

Click to access p37.pdf

Still shocked by my failure yesterday, I wandered around the house thinking about what I had done: I hadn’t even made the slightest impact on Edison’s discovery process, let alone destroy it! Light bulbs, whose glow has brought light to billions of people, are now leaving me in the dark. In a fit of anger, I grabbed the remote control, and all the lights in the house got switched off just by pushing one button.

I suddenly stopped.

What have I just done?

Use remote control.

It is so common that there was one in my old house, too. Yes, everyone considered it a trivial, cheap item to control his or her whole house. But what if it never had existed, I wonder…

No, don’t think about it that way. Must start at the problem’s root. What is the principle of remote controls? Of course, the wireless transmission of radio waves. Scientists have implemented this technique for the first time in the late nineteenth century/ the early twentieth century; by the beginning of the twenty-first century, it already became common as tools for transmitting information via Wi-Fi, satellites, and so on. At the moment – the twenty-second century, it has been upgraded to be the most widely-used mean of energy transmission between the Earth and solar satellites, as well as between power sources and myriad household electrical equipment, instead of the once-famous, frightening wires.

It is apparent that wireless transmission plays an extremely critical role in human life and the invasion of technology into the everyday world. If destroying this technological advance, I will definitely change the whole history and slow down the enormous advances in science and technology during the past 200 years.

Maxwell theoretically proved the existence of electromagnetic waves in 1864. Hertz first generated and obtained electromagnetic waves in 1887. However, not until Guglielmo Marconi won the 1909 Nobel Prize in Physics for “in recognition of [his] contributions to the development of wireless telegraphy” had wireless transmissions of electromagnetic waves actually become technically and commercially feasible.

Dear Marconi, please accept my apologies.

Bologna, Italy, 1895.

Marconi House – throughout 1895, this was where Marconi experimented with various signal transceiver configurations. From previously-designed, simple machines, he gradually turned to study more sensitive designs, which allow recording signals in the form of Morse code. A generator is an oscillating circuit consisting of a capacitor (storing electrical energy) and a coil (storing magnetic energy). Due to its design, this circuit is not closed, which causes the fluctuations of the current and voltage “leaking out” as electromagnetic radiation that we all have known. This radiation was then transmitted to the receiver and recorded as an electrical signal.

What can I do to hinder these experiments? Recalling the previous times, I realize I was often on my own. Nonetheless, now I know that I alone am not strong enough to go against the capability of these people’s brains. “To go far, we must go together.” Maybe I should listen to this statement?

Therefore, I had lived full-time in the village of Marconi since the beginning of 1895, integrating with the local community and the press. We often had conversations about Marconi’s experiments. It was a new thing for the people, so they seemed to enjoy it.

“Can it enable wireless remote communication? Sounds amazing. I can still contact the distant place even if storms destroy the power line. Many lives will probably be saved!”

The design, which was probably Marconi’s breakthrough, was completed in August when he placed the transmitter and receiver above and connected them to the ground. This creates a large capacitor, which increases waves’ energy and reduces their frequency, increasing the wavelength. The large wavelengths allow the signal to travel farther and around smaller obstructions, making communication much more feasible.

“Marconi yesterday transmitted a signal between two points blocked by a hill. His assistant fired three shots to signal the reception. This is probably a major step towards radio waves transmission” – Local newspaper

This situation is not okay. I have to change public opinion. If the people and the media protested, Marconi could hardly continue the experiment, no matter how ingenious he was. Yes, they would smash his device and maybe even kick him out of the village! Accordingly, I started my fake news campaign: vague words to many different people, an anonymous article in the local newspaper. So simple.

How was he able to make communication that far? It should take a lot of energy, which means the voltage must be very high. Is that enough to create lightning strikes in the air? If there’s lightning, it’s dangerous. A hundred volts is enough to create a deadly current!”

“Is he communicating by an electromagnetic wave? It means that those waves will be all over the place in our atmosphere, yes they are harmful to us! The wave is said to undermine our immune systems, making us more susceptible to influenza or other illnesses!”

“… The event last month when Marconi made the transmission between a distance of 2.4km is still attracting great attention from the locals. However, some experts believe that the electromagnetic waves that these experiments generate may have a negative impact on daily life … Some people have decided to raise their voices against these peculiar experiments at Mr. Marconi’s house next Saturday. ” – Local newspaper

People are easy to waver and believe in sensational rumors, rather than calmly considering things with logical reasoning. Indeed, my rumors article drew a crowd of a few dozen people to Marconi’s house on the appointed date, all thinking that they were only following some others. The result? Marvelous.

“Come out, Marconi!”

“You are going to kill us all, Marconi!”

“Stop these peculiar experiments, Marconi!”

“Everyone, break in!”

Standing from a distance, I saw Marconi trying his best to explain to the angry crowd: “My experiments are very safe, at great distances from people; some devices even have protective nets. There is no danger of lightning or anything. Moreover, the energy of this wave is very small compared to normal light. Only if it is exposed at very high intensity can it heat the body and cause harm. You definitely have no problems, if it’s harmful then I’m the one at high risk! ”

Well, of course he’s right. The wavelength he used was all the size of meters or more, the total energy reaching the body was certainly smaller than that of a modern microwave. But the people who have no idea of the future, when radio waves exist all around our bodies, could never have believed these explanations, once they were suspicious and scared.

“Alright, I’ll stop my experiments. I will do as you ask! ”

Wait. Am I successful? It can’t be that easy! I watched anxiously and waited for weeks. Marconi laid low indoors for a while, instead of going outside to do experiments …

Out of the blue, several large luggage boxes filled Marconi’s yard: he announced he was going to England.

Well, at least I won a match – chasing him out of his home sweet home, which was filled with the support of everyone. The next step is to follow him. Who knows what he would do in the new land?

***

1901

On the train across the Atlantic

After a series of demonstrations in the UK, Marconi had received great attention and significant sponsorship. In 1899, he succeeded in transmitting messages across the English Channel, which separates England and France. However, the media breakthrough didn’t occur until 1901 – the year he made the historic transatlantic transmission.

I registered to be Marconi’s personal assistant a few months before that. According to previous experience, this would help me approach directly and share daily conversations with the inventor, thereby affecting him. I would focus on what many of his contemporaries also believe: radio waves cannot travel too far due to the curvature of the Earth.

Marconi believed the opposite and was determined to conduct experiments proving that radio waves can be received across the Atlantic – a distance of up to 3500km. However, he had no theoretical basis for this belief. Indeed, it was not until 1925 that scientists found evidence of the ionosphere of our atmosphere, which, along with the surface of the Earth, reflects radio waves while the waves continued to propagate horizontally, allowing waves to travel around the Earth.

I was currently traveling with Marconi on a transatlantic train to the United States to carry out the experiment. Yes, this historical experiment was about to occur in months, even weeks. Must act immediately.

In the early morning of a cloudless day, I saw Marconi standing by the railing and watching the sunrise on the sea as if to relax after a night of tiring debate with the technical assistants about the obstacles in receiving signals. Perhaps this was a good time for me to talk to him?

“Sir, I think this is impossible. If you’re going to use a wavelength of nearly 400 meters, then it can only go around obstacles of that magnitude? How does it get around thousands of kilometers of the Earth? ”

“I believe connecting devices to Earth will solve this problem. Perhaps the Earth also participates in the circuit. “

I knew that the Atlantic’s absorption of electromagnetic waves is enormous, so this is practically impossible. Why is he willing to bet on this explanation?

“You should focus on commercially developing medium- and short-range broadcast stations, especially in Europe. The market will definitely be huge. Pursuing long-range broadcasts takes effort, money, time, and loss of public image. I sincerely advise you not to!”

“Man, you are a good secretary and manager, but you don’t have the spirit of a scientist. We do not fully understand the mechanism of signal transmission so far, so no theoretical conclusions are trustworthy. Only experiments can give us an answer! If we don’t try it, how can we know?”

The latter conversations are also useless. Although he never complained to me (on the outside, although he must somewhat be annoyed with a guy who keeps talking about his opinions all the time), his intention didn’t seem to alter. Perhaps he had a hunch of a genius? Intuition, along with passion and determination to push our technology beyond its limits. I must also say they were admirable. I had to delay my plan now; otherwise, he might leave me behind in the upcoming experiments too!

***

Newfoundland

Because the weather destroyed the radio station equipment on Cape Cod, Marconi decided to bring the receiver to St. John’s, Newfoundland. I also went with him as an assistant. However, my actual purpose was to gather false evidence to spread the news that he had not caught the real signal. This plan would surely succeed just like the last time.

I looked up at the sky of Newfoundland. Somewhere up there (probably more than 80km, I’m not good at remembering the data!) is the ionosphere, which would bring success to Marconi (temporarily). On it, solar and cosmic rays were constantly attacking and blasting gas molecules, which resulted in those molecules’ loss of electrons. The created plasma layer, which had a small refractive index (less than 1!), along with radio waves, resulted in strong reflections back to the air for large radio wavelengths. Physics is sometimes simple yet beautiful.

Back to reality, I immediately had to face an overwhelming amount of bulky equipment required to receive the signal. Yes, Marconi and his assistant George Kemp would fly a kite to bring up the receiver! They also had to use simpler receivers than expected, because the wind strongly affects the stability of the device. At 12:30 on 12th December 1901 local time, Marconi announced to have received the signal (just three dots – the Morse code for the letter S). Moreover, due to bad weather, he could not invite anyone besides his research team to verify. Additionally, the transmission time was at noon. Daytime transmission is only able to transmit far closer than nighttime transmission, since the strong ionization effect of sunlight compared to cosmic rays at night makes the ionosphere thicker and denser, adversely affecting the ability to reflect radio waves. Thank you for making my job much easier when I also believed what I was going to say.

After the Newfoundland news spread, the community of scientists and global communities were extremely astonished and endlessly cheered Marconi. However, after only a few days, an article was posted, showing that the signal Marconi received was actually just turbulence of the atmosphere. Moreover, this article also had evidence from his personal assistant. The assistant detailed the simple equipment installation and bad weather that day, as well as Marconi’s previous uncertainty about the success of the experiment and many other “evidence”. The man used many months of experience with Marconi to confirm that this experiment was not really successful. He also announced to have quit.

After my article, there were numerous doubts about Marconi raising in the scientific community. However, I felt a bit uneasy. After months of working for Marconi, I realized his assiduousness as well as his leadership and quietness. Once I even heard him play the piano, which was pretty good. It was not until the plan succeeded did I look back. But what else could I do? Well, I just hoped that he would not completely collapse.

Indeed, Marconi did not react strongly. That’s how he was, always humble and calmly handled everything.

Indeed, two months later…

Marconi announced the signaling experiment series on SS Philadelphia with reliable data collected at various locations, which simultaneously showed the difference in distances between day and night transmission.

From the end of 1902, complete letters began to be sent across the Atlantic. Marconi also developed a new receiver called the magnetic detector, which is much more sensitive and reliable than the old device. The scientific and social community then returned to support Marconi. I also couldn’t think of a way to reverse the situation…

***

I failed again. Unable to modify the inventor’s intuition and determination, launching fake news and relying on the media couldn’t work for long. Great achievements would then prove itself. Well, another complete failure.

I was now back to the starting point. What to do to ensure the next success?

I sighed, turning on the television channel with old, nostalgic music. What was this post today? Radio Ga Ga – Queen. What a cool song!

*Citation:

Click to access marconi-lecture.pdf

https://www.britannica.com/biography/Guglielmo-Marconi

https://www.nobelprize.org/prizes/physics/1909/marconi/biographical/

https://en.wikipedia.org/wiki/Invention_of_radio

Click to access p37.pdf