[BÀI DỰ THI LE SPECTRE #1: NGỦ ĐÔNG]

Tác giả: Phạm Thị Thúy Quỳnh
Lớp – Trường: Đại học Văn Hóa Hà Nội

1.
Gã xỏ dép và bước vào phòng tắm, sau khi vệ sinh cá nhân, gã vặn vòi hoa sen. Nước xối xuống vai, cánh tay và bắp chân, gã bắt đầu kỳ cọ một cách kỹ càng. Dù rằng giờ đây cho dù gã có dành cả năm không tắm thì cũng chẳng có ai để ý, song gã vẫn làm quy trình này hằng ngày. Nó là một nghi thức, một nhu cầu, để gã biết mình còn kết nối với con người.
Xong xuôi, gã khép cửa nhà, băng qua bên kia đường để tới “kho ngủ đông”. Trên tường, con thạch sùng tặc lưỡi sau khi vồ được một chú muỗi bé bằng đầu tăm, cái miệng rộng của nó ngậm chặt lấy con mồi sau đó lẩn vào kẽ tủ, nhưng vẫn thò cái đầu bé tí ra nhìn gã lom lom, một lát sau nó mới lủi đi mất.
Mặc quần áo bảo hộ, gã tiến vào từng khoang, mặc dù điện sáng rực nhưng tay gã vẫn cầm đèn pin để kiểm tra các chùm dây lằng nhằng xanh đỏ bên dưới. Mười năm qua, công việc của gã cứ lặp đi lặp lại như vậy, giống một con quay có quỹ đạo ổn định. Hai năm sau khi nhận việc, gã cảm thấy nhàm chán và bắt đầu nói chuyện với từng khuôn mặt mờ phía sau tấm thủy tinh chứa màn khí lạnh. Gã kể rất nhiều điều, về cánh rừng đã mất ở quê hương, về tháng ngày khát cháy cổ mà không tìm được một giọt nước, về những con vật đang sinh sôi nảy nở phía bên kia hàng rào, về hệ thống rừng rậm dần dần hồi phục, về cảm nghĩ của mình khi gặp các ánh mắt từng đối diện khi họ chưa “ngủ”.
Loáng thoáng thấy bóng hình mình lướt đi qua các mặt kính, gã rờ lên khuôn mặt, vẫn chưa hề xuất hiện nếp nhăn hay dấu hiệu lão hóa.
Ngày ấy, trước lúc tiến vào trong phòng thủ thuật, bố đã hỏi rằng gã có hối hận khi ở lại không. Gã vừa ký vào đơn xác nhận vừa đáp, rằng có.
“Làm sao con sống được một mình.”
“Bao năm qua con vẫn sống một mình mà”
Văng vẳng tiếng bật cười của quá khứ. Bố gã từng là một người cha tốt nhưng cái chết của vợ đã khiến ông sụp đổ. Mẹ gã rất đẹp, bà thường nhốt mình trong phòng đọc sách, mê mải với thế giới riêng. Sau này, gã không còn tìm được bất kỳ ai giống bà nữa. Mẹ gã bị suy tim khi còn trẻ, đến lúc lấy chồng sinh con vẫn cố gắng giữ gìn bản thân. Năm lên tám, gã âm thầm vẽ một chiếc mặt nạ cho lễ hóa trang ở trường. Những tấm mặt nạ ngày càng giống thật, đến mức sau khi đeo lên, gã không biết mình là quỷ hay là người.
Sau khi xây nhà, mẹ gã chọn sơn màu trắng, ánh sáng không mời mà đến ngập khắp mọi nơi. Hôm ấy trời nắng to, gã đeo mặt nạ, trốn ở góc tường, định bụng chờ mẹ đi qua thì tạo cho bà một sự bất ngờ. Bước chân của bà vang lên từ phía đầu cầu thang, gã háo hức chờ đợi, chân tay luống cuống. Trước nay bố luôn không cho gã ở bên mẹ quá lâu, vì sợ bà sẽ mệt. Nhưng một tối, mẹ than rằng nhà đã hết sách mới để đọc rồi nên bà muốn đi ra phố sách, bố phản đối: “Ngoài đấy vừa bụi lại vừa đông, để anh đi cho, em cứ ở nhà nghỉ đi.”
Mẹ gã – đã quen với tính cách của chồng, ghi xuống giấy những tiêu đề sách mà mình cần, ngoài ra còn thêm vào đó một số dụng cụ và thực phẩm khác. Bố gã uống vội cốc cà phê, dành cho vợ một nụ hôn tạm biệt và rời đi. Đó là lần cuối cùng bố hôn mẹ và ngược lại, sau này gã đã nghĩ vậy. Nụ hôn đi theo mẹ trong suốt con đường luân hồi tiếp theo, biết đâu nó sẽ trở thành vật chứng thực cho cuộc tình của họ ở kiếp sau nếu tồn tại một thứ chuyển sinh sau cái chết.
Trở lại với chiếc mặt nạ, phải, gã đeo nó và dường như nó ăn nhập hoàn toàn với khuôn mặt gã khi ấy. Ánh nắng rọi vào chân, gã vội rụt lại trốn nắng, nắng sẽ khiến cho cái bóng của gã hằn rõ trên tường, nắng sẽ khiến trò đùa của gã bị đánh bại. Chân mẹ rất nhỏ, bước chân cũng vậy, tiếng bà đi lại như tiếng chân con mèo hoa dò trên bờ tường.
Gã nhào ra: “Ta là ma đây!”
Bóng của gã hiện rõ rồi, cái bóng bé con với những ngón tay xòe ra như móng vuốt.
Sát na, gã không còn cảm nhận được bất kỳ điều gì, chỉ thấy mặt mẹ tái nhợt, mắt bà trợn tròn lên và môi tím dần, bà ngã xuống, giỏ mây đựng quần áo bẩn lăn lông lốc làm tung ra mấy chiếc áo ngắn nom tựa các thi thể cụt què.
Gã của năm tám tuổi đứng trân trân nhìn mẹ mình nằm trên sàn nhà lạnh ngắt, hơi thở của bà đứt quãng, ánh mắt bà nhìn gã dần trở nên dịu dàng và cuối cùng khép lại với thế giới, khép lại với ánh nắng dần tắt. Gã lê gối đến bên bà, nhấc bà lên, nhưng cơ thể bà mềm oặt sau đó dần cứng lại như súc gỗ, bà rất lạnh. Gã ôm lấy mẹ.
Và gã bật cười, chưa bao giờ gã cảm thấy thoải mái đến vậy, chưa bao giờ gã cảm thấy gần mẹ mình tới vậy kể từ khi sinh ra, gã vùi vào ngực bà. Bóng đêm trùm lấy căn nhà từng ngập nắng, có tiếng xe đỗ lại ngoài cổng, bố gã đẩy cửa vào nhà, hỏi: “Sao không ai bật điện lên thế này? Hai mẹ con đi ngủ rồi à?”
“Tách”, đèn bật sáng, gã nhìn mẹ, trông bà chỉ như đang thiếp đi mà thôi.
Sau đó, đám tang đã nuốt chửng lấy bố. Dường như ông không hề hay biết con trai mình là người đã gây ra cái chết của mẹ, nên ngoài việc làm bạn với thuốc an thần và rượu bia, ông vẫn cố gắng làm tròn vai trò người cha.
Bắt đầu từ năm tám tuổi, gã thường xuyên nhìn thấy mẹ ở mọi nơi trong nhà: phòng tắm, phòng khách, dưới bếp, ngoài vườn, trên sân thượng. Thậm chí ngay cả khi lúc đi ngủ, gã cũng thấy mẹ đứng trước cửa phòng, mỉm cười với mình. Trong mơ, bố cầm dao đuổi theo sau gã, nét mặt hằn vẻ dữ tợn, gã nhanh chóng bị bắt lại, hung khí trên tay bố dí xuống ngày một sát hơn, và đột nhiên, gã thấy ông đang đeo chính chiếc mặt nạ của mình.
Nếu không rời khỏi đó, chắc chắn tôi sẽ phát điên, gã nói.
Vào cấp hai, gã mở lời xin bố cho mình vào học trong một trường nội trú. Ông không do dự khi nói đồng ý, nhưng vào ngày tiễn gã nhập học, ông đột nhiên buông một câu: Con càng ngày càng giống mẹ.
Và rồi, gã thấy mẹ đi theo mình tới trường, vào ký túc xá. Bà không trách mắng gã, chỉ dõi theo và ngồi cạnh mỗi khi gã gặp ác mộng. Bà ngồi trên băng ghế xem gã thi thể chất tại sân vận động, bà ngồi bên bậu cửa sổ phòng ngủ, và im lặng. Dần dà, gã phát hiện ra rằng khi tới tuổi dậy thì, khuôn mặt mình trở nên nhang nhác với mẹ, thậm chí gã từng bị đám bạn học quấy rối một đôi lần.
Gã bần thần nhìn vào mình thông qua sự đóng băng của người khác, hơi lạnh phủ kín, choán lấy tầm mắt, choán lấy cả gương mặt.
2.
Ánh nắng rải xuống mặt đường lấm tấm những cây rau sam chua, một con tắc kè bò ra phơi mình. Đôi khi một số loài vật bé nhỏ vẫn lẩn qua được rào chắn để vào thành phố, chúng không gây hại cho nên đội canh gác vẫn làm ngơ.
Khi con người tạm ngừng hoạt động, đến cả dịch bệnh cũng bị khóa lại ngoài kia, nói đúng hơn, mầm bệnh đều đã bị đẩy ra khỏi vũ trụ. An toàn đến nhàm chán, gã nói.
Cách đây hai mươi năm, các nhà khoa học trên khắp thế giới đã đưa ra yêu sách về môi trường khi hệ thống thực vật, động vật đang dần mất đa dạng và nhiệt độ trái đất tăng cao, rằng loài người phải tìm cách ngừng hoạt động trong vòng hai mươi năm để chúng có thể dần dần khôi phục lại. Biện pháp duy nhất bấy giờ là đông lạnh. Khi ấy, gã mới lên hai.
Biểu tình diễn ra khắp nơi, hết thảy đều lên án về bản kế hoạch đó. Tuy nhiên, đột ngột một ngày nọ, một bản tin được chiếu ngay tại quảng trường về vụ sát hại hơn hai mươi nhà khoa học đang nghiên cứu về quá trình cấp đông sinh vật sống, hơn hết, nó đã được đưa đến khắp mọi nơi trên thế giới, kéo theo sự vào cuộc của cánh báo chí đang khát tin bấy giờ. Hệ thống máy móc được đưa lên các mặt báo, các kênh truyền hình, mạng xã hội kèm với những cuộc thí nghiệm thành công trên cơ thể tình nguyện viên.
Như giọt nước tràn li, chiều hướng dư luận bắt đầu thay đổi, đầu tiên những người mất mạng đang bị phỉ nhổ được tôn lên làm anh hùng, một thời gian sau, mọi người bắt đầu ký vào đơn xin được “ngủ đông”, số lượng lớn những người không tình nguyện mạo hiểm tính mạng mình biến thành “kẻ chăm sóc”, nói đúng hơn là được đào tạo thành kỹ thuật viên chuyên bảo trì máy móc thuộc hệ thống nằm trên toàn cầu, đồng thời bảo vệ đồng loại khỏi nguy cơ từ động vật đang dần nắm lại thiên nhiên tràn vào thành phố dù cho các hàng rào điện tử đã được xây dựng một cách vững chãi.
“Kế hoạch ngủ đông” đã phải trải qua quá trình nghiên cứu và hoàn thiện hơn ba mươi năm, nếu chưa kể tới mầm mống manh nha trước đó nhiều thập kỷ – Gã nói – Để tránh sự diệt vong cận kề, loài người cần phải làm điều này.
Gã bật công tắc khóa cửa kho, đồng thời bật chiếc ghế điện lên. Ngồi xuống, gã bắt đầu đốt thuốc, nheo mắt nhìn về phía bầu trời vương màu xám nhạt, có vẻ như tối nay sẽ mưa. Ở phía đối diện, y cũng đang gà gật bên băng ghế, gã chưa bao giờ hỏi tên của y và họ cũng chưa từng nói chuyện với nhau. Giờ đây, lời nói đã được thay bằng ánh mắt, những nụ cười nhẹ và những cái gật đầu ẩn ý. Gã lôi cuốn sách bỏ túi ra, bắt đầu đọc to các dòng văn trong đó. Nó là một câu chuyện đã cũ, viết cách đây hơn hai trăm năm, về hành trình của một con dế mèn và sự trưởng thành của nó. Các tác giả của những cuốn sách mà gã có đã lùi vào dĩ vãng, chỉ còn tác phẩm ở lại. Giọng của gã đều đều vang lên, nếu không làm thế, gã sợ mình sẽ quên mất cách nói chuyện, sẽ trở nên câm lặng khi thế giới trở về với guồng quay tự nhiên.
Gã quên mất rằng mình nên giới thiệu về y. Đó là một người trạc tuổi gã, dường như đến từ một thành phố khác. Nhưng có hề chi khi tất cả các thành phố ở thời đại này đều giống nhau, sau này y đã nói vậy. Gã cũng cảm thấy điều đó là đúng, trật tự thế giới mới đã đưa toàn bộ kiến trúc vào một khuôn nhất định, điều này sẽ khiến bạn đỡ đi lạc tại nơi mà mình sinh ra, cũng sẽ không bị lạc nếu tới một nơi khác, dần dà vì thế mà chẳng còn mấy người đi du lịch nữa – nhất là sau khi một số đại kỳ quan dần biến mất bởi sự khắc nghiệt của thời tiết.
Khi chuẩn bị chiến dịch ngủ đông, gã từng thấy y đi trên đường, lẫn vào đám đông, y ngoác miệng ra ngáp một cái rõ to, không chỉ ngáp mà trong cổ họng còn phát ra âm thanh ồ ồ khiến mọi người đều phải ngoái đầu nhìn lại. Dường như y không hề ngượng ngùng, thấy vậy chỉ đi thẳng. Gã nhìn thấy y làm điều đó mấy lần và nhận ra một điểm chung, ấy là y chỉ làm thế ở chốn đông người. Đó là một dạng quấy rối, gã nói, trong lòng thấy không mấy thiện cảm.
Sau này, khi thành phố dần vắng lặng, y đã thôi không làm trò nữa, chỉ nằm vật ra giữa đường để cho đám kiến bò qua người hoặc giả ngồi bất động mà chẳng làm gì cả, mỗi lúc ngáp y còn vội vàng che miệng lại. Chẳng có ai nhìn ngó, chỉ trỏ, y thành ra lại tế nhị với chính mình.
Sau này, khi thành phố dần vắng lặng, gã đã bắt chuyện với y. Gã bảo, suy cho cùng thì đây sẽ là người duy nhất ở gần mình trong suốt mấy chục năm, gã muốn sống một mình nhưng lại sợ cô độc.
“Đến cùng thì ở đây chỉ còn tôi và anh, nên là…” Gã bỏ lửng câu nói.
Y nhìn gã, chẳng đáp, đoạn giơ gói thuốc lá ra. Gã cười cười đón lấy, Vina 2190, của hiếm đấy. Y bảo, vẫn nặng hóa chất lắm, rồi liếc qua bìa sách, ở nhà tôi cũng có một cuốn này, là bản năm 2002, nó chỉ còn một phần, khi tôi tìm được thì mối mọt đều oanh tạc non nửa.
Gã bảo rằng y có thể tới nhà mình, ở đó y có một phòng đọc sách riêng biệt với vô vàn đầu sách mà rất có thể đọc cả đời chẳng hết. Công việc chẳng qua cũng chỉ đến thế: kiểm tra hệ thống điện xem có con vật nào mò vào đống dây nhợ lằng nhằng hay có tủ đông nào phát sinh ra vấn đề liên quan tới nhiệt độ không, xong xuôi thì gã chỉ đành tiêu tốn thời giờ của mình vào những cuốn sách hoặc đi dạo loanh quanh bởi điện năng chỉ được dùng tối thiểu nhằm tập trung phục vụ cho chiến dịch ngủ đông. Gã chẳng thể tìm được gì khác để tiêu khiển.
Y kể lại: Tôi không có bố, mẹ tôi chưa từng nhắc tới người đàn ông này, bà nuôi lớn tôi trong một căn nhà ở bên rừng, ở đó bà trồng rất nhiều rau quả và hoa hướng dương. Bà nói mình thích hướng dương, vì nó có thể dẫn người lạc đường tìm thấy mặt trời. Tôi không hiểu những gì mẹ nói. Mẹ tôi thường dẫn tôi vào trong rừng sâu, nơi có một dòng suối gần như cạn kiệt, mà nói đúng hơn nó chỉ còn là một cái lạch nước. Bà xếp những viên đá thành bếp, rửa sạch một phiến đá mỏng khác, đun nó trên than đỏ, sau đó bà nướng thịt đã ướp sẵn lên. Mùi hương của thịt nướng lan tỏa khắp không gian, xa xa có một con chó nhỏ đang lấp ló, nó là chó hoang, tôi có thể nhận ra qua vẻ bề ngoài. Lúc ấy tôi đã hỏi mẹ rằng, bây giờ vẫn còn chó hoang sao? Mẹ bảo, thời nào cũng có những con vật hoang như thế, thật may vì chúng vẫn thoát khỏi sự quản thúc của con người. Lúc đó tôi nhớ tới hình ảnh của lũ thú cưng béo mầm trong thành phố, chúng có thể phơi nắng cả ngày, đôi lúc sẽ ngẩng đầu nhìn người qua đường song vì trọng lượng cơ thể nên chỉ đành nằm đó, chúng di chuyển nhờ vào chủ nhân.
– Trong đôi mắt chúng… – Y nói – Tôi thấy được sự chán chường, bất lực. Sống ở rừng lâu ngày, tôi biết rằng chúng thuộc về thế giới ngoài kia, nơi ngập tràn cỏ xanh và bụi rậm, không ngừng làm chủ lãnh địa, không ngừng chiến đấu, chúng có thể sẽ chết nhưng chí ít chúng cũng được sống mà không phải là tồn tại.
– Mẹ anh giờ ở khu nào? – Gã hỏi.
Y đột nhiên khẽ lắc đầu:
– Mẹ tôi mất rồi. Bà là một trong những nhà khoa học bị sát hại năm đó, bà và đồng nghiệp đã tìm mọi cách để cứu giúp đồng loại của mình… Mặc dù hiện tại nghiên cứu đã được chấp nhận và thực hiện…
Y cảm thấy cổ họng nghẹn bứ hơi thuốc lá, cười giễu:
– Vinh danh thì có ích gì khi người đã mất rồi cơ chứ. Có nhiều lúc tôi đã muốn ngắt toàn bộ hệ thống điện làm lạnh kia, vì tôi biết được trong số những người đó có những kẻ từng chống đối, cười cợt công việc mà mẹ tôi làm, thậm chí có cả tên đã cắt cổ bà vào ngày sinh nhật tôi.
– Nhưng anh đã không làm thế – Gã chợt cảm thấy ruột gan như bị ai đó cầm kim châm vào.
Y nhìn gã rất lâu, rồi gật đầu:
– Phải, vì tôi không phải là họ, tôi không biết cách làm thế nào để có thể ra tay giết hại một con người.
***
Gã bảo, đó là một khoảng thời gian khá dài, tôi với y phóng xe ra biển. Khi đã ở tuổi bốn mươi, tôi mới được nhìn thấy vùng xanh sâu thẳm đó. Tôi lúng túng ôm phao trong khi bạn mình đã bơi ra đằng xa, nghe nói trước đây nơi này có cá mập nhưng chúng đã tuyệt chủng, nên giờ chỉ có thể trải nghiệm hình ảnh dữ tợn đó thông qua máy phát 3D mà thôi.
– Tiếc quá – Y nói – Tôi từng muốn săn cả cá mập cơ.
Gã chưa từng kể cho y nghe về mẹ mình, cũng chưa từng nói rằng lí do mình không dám ra biển là vì sợ sẽ nhìn thấy bà trong bóng dáng của những cuộn sóng bạc. Song giờ này gã nhận ra mình đang lão hóa dần dần, mặc dù cơ thể đã được dùng thuốc để duy trì, gã vẫn đếm được từng vết chân chim trên khóe mắt. Đôi khi y cũng than phiền về điều này, y muốn đến khi cuộc Rã Đông diễn ra thì bản thân vẫn còn đang ở độ tuổi đôi mươi trai trẻ.
– Tôi sẽ yêu, tôi đã nhắm trước một cô gái nom rất xinh xắn đang ngủ đông rồi. Nhưng nếu cơ thể còn già đi thì chẳng mấy chốc tôi sẽ thành chú của cô bé mất.
Gã phá lên cười khi nghe y bộc bạch, thấy bạn mình có vẻ hơi giận, bèn cười cười nói:
– Thực ra, tôi cũng chưa từng có mối tình đầu.
3.
Gã đứng đối diện với bố, tay lau bớt hơi lạnh phả trên kính, tuổi tác và các tế bào trong cơ thể ông đang ngừng lại ở tuổi năm mươi. Ngồi xuống nền gạch, gã tựa mình vào chiếc tủ, ngay dưới chân bố. Khi còn nhỏ, gã thích ngồi đọc sách dưới bãi cỏ sau nhà, bố đứng tưới hoa đằng sau, mẹ thì cặm cụi trong bếp. Gã thích quẩn quanh bên gót của bố, sau khi mẹ mất, gã đâm ra sợ phải gặp ông, thậm chí sống chung một thành phố cũng là chuyện khó khăn.
– Bao năm rồi nhỉ? – Gã nói, rờ lên nếp nhăn trên khóe mắt – Bây giờ con bằng tuổi bố rồi, khi chúng ta gặp lại nhau, không rõ xưng hô có bị gượng không nữa.
Gã bật cười chua chát:
– Có lẽ bố chưa từng biết chuyện này, đó là về sự ra đi đột ngột của mẹ…
Ngày hôm đó, gã đã ở lại trong kho rất lâu, đến tận khi y hoảng hốt tìm tới vì lo gã xảy ra chuyện không hay. Y nhìn gã ôm đầu gục vào đầu gối, hơi lạnh bám trên tóc và quần áo tạo thành lớp màng mờ ảo, rõ ràng là gã đang khóc. Y lại ngước mắt trông chiếc tủ kính sau lưng gã, đó là một người đàn ông tuổi ngoài ngũ tuần, y chợt hiểu ra mọi chuyện, rời gót lùi về phía sau, bước ra ngoài và bắt đầu đốt một điếu thuốc.
Bây giờ thì tôi đã nói hết ra được rồi, gã bảo, thật nực cười phải không? Khi tôi chỉ dám kể ra vào lúc bố mình đang ngủ đông, khi tôi đã đi được nửa đời người. Những có lẽ mọi chuyện đã kết thúc rồi. Trong giấc mơ, tôi thấy mẹ mỉm cười, bà nói bà đang trên đường đi sang thế giới khác.
Lá vàng bắt đầu phủ dày mặt đất, thảng hoặc sẽ có tiếng nghiền lá của máy dọn đường âm vang đứt đoạn nơi thinh không im ắng.
Y ngước mắt lên khi gã đứng trước mắt mình với một chai rượu trong tay.
– Tequila 2081 đây – Gã giơ cái chai với sắc rượu hổ phách ra, nhoẻn miệng nói.
Sau đó, gã chẳng còn nhớ mình đã sống ra sao, có đôi lúc gã và y vào trong siêu thị để tìm đồ ăn vặt cùng với mấy lon bia cho bớt nhàm chán. Trong thời gian này, gã đã chứng kiến sự tiến bộ vượt bậc của khoa học đối với việc nghiên cứu AI, bởi có lần gã thấy một người máy giữ nhiệm vụ trông coi các cửa hàng lẻn ra gần rào chắn để vuốt ve một chú mèo con.
– Ơn trời là dường như chúng đều nhân hậu. – Y nhận xét khi nghe gã kể lại chuyện này.
Gã gật đầu:
– Vậy thì hãy uống vì sự tử tế nhân tạo nào!
Y bật cười. Hai người uống bia dưới bầu trời đầy sao, ngắm đàn đom đóm thắp lên từ phía khu rừng ngoài rào chắn, vỏ lon xếp đầy dưới đất, dường như đến cả gió cũng bị thu hút bởi hơi men bèn náu lên trên tán lá dày.

[1. Penicillin]

English

Hừm, có quá nhiều cách để bắt đầu kế hoạch này. Tôi có thể đi về quá khứ xa xôi nhất và đập tan cái thành trì vĩ đại mang tên “khoa học” kia ngay từ nền móng. Nhưng cỗ máy thời gian chỉ vừa mới hoạt động, không thể mạo hiểm đi quá xa được, chẳng có gì đảm bảo kế hoạch sẽ thành công ngay lần đầu tiên, và những hệ quả của việc thay đổi quá khứ sẽ khó lường trước hơn nhiều nếu tôi làm như vậy. Cần một kế hoạch cẩn trọng hơn thế. Chậm mà chắc. Dù sao trong trận chiến khốc liệt này, thời gian đứng về phía tôi.

Hơn nữa, cuộc sống của nhân loại vẫn luôn phụ thuộc quá nhiều vào những phát minh khoa học, đến mức chỉ cần một phát minh quan trọng “bốc hơi” khỏi lịch sử là đủ sức thay đổi số phận của hàng trăm triệu người… Một ý nghĩ vụt sáng. EUREKA! Y HỌC! Đúng vậy, đáng lẽ tôi phải nghĩ đến nó ngay từ đầu chứ! Con người đã và đang sống quá lâu với sự ngu ngốc của mình, và cả với tốc độ sinh sản điên rồ ấy nữa. Chỉ cần tôi tìm được một phát minh y học đủ sức ảnh hưởng, và đồng thời, có một hoàn cảnh ra đời “ngớ ngẩn” đến mức việc nó chưa bao giờ tồn tại sẽ hoàn toàn hợp lý. Phần còn lại chỉ cần tin tưởng vào sự thiếu kiên nhẫn của nhân loại, họ sẽ dừng nghiên cứu một khi không thu được kết quả nào khả quan. Ít người hơn, sự đô thị hóa hẳn sẽ bị chậm đi vài chục năm, thậm chí cả thế kỷ, ít nhất là đủ lâu để tôi có thể được nhìn thấy mẹ già đi bên cạnh mình, trên những bãi cỏ xanh, giữa cánh rừng bạt ngàn sự sống…. 

Kết hợp tất cả các yếu tố từ khả năng, sự phát triển đến thời gian đích, tôi đã tìm được mục tiêu hoàn hảo cho mình: Penicillin – kẻ mở đường cho y học thế giới. Đúng vậy, chính là thứ thuốc kháng sinh được mệnh danh là “thần dược” của thế kỷ 20. Được coi là một trong những họ thuốc được phát triển rộng rãi nhất, Penicillin đã đem đến hiệu quả chưa từng thấy trong lịch sử đối với các vi khuẩn Gram dương, trong đó bao gồm nhiều vi khuẩn nguy hiểm như bệnh lậu, viêm phổi hay viêm màng não (loại nguy hiểm và dễ gây tử vong hơn gây ra bởi vi khuẩn chứ không phải virus như nhiều người lầm tưởng). Phát minh đem lại cho Alexander Fleming giải Nobel Y học cùng với danh tiếng là người khơi mào cuộc “cách mạng kháng sinh” trong lịch sử ngành Dược hai trăm năm về trước, bây giờ – hay nói đúng hơn là, rất lâu sau khi nhân loại biết rằng nó tồn tại – sẽ giúp tôi bắt đầu một cuộc cách mạng hoàn toàn mới – cuộc cách mạng xóa bỏ nền khoa học của toàn nhân loại.

Tôi đã sẵn sàng.

“Đích đến đã được xác nhận: 2 tháng 9 năm 1928, London. Chuẩn bị đi vào liên không gian – thời gian.” – Âm thanh vang vọng từ bộ điều khiển làm tôi rùng mình vì những điều mà mình sắp thực hiện, và những hậu quả có thể xảy ra, bất kể đó là gì.

Xin lỗi nhé Fleming. Có lẽ ông vốn dĩ không nên tìm ra nó ngay từ đầu.

——————–

London, 2 tháng 9 năm 1928.

Cỗ máy thời gian đưa tôi vào một con hẻm nhỏ, tối và ẩm ướt. Sau khi kiểm tra một lúc lâu để chắc chắn mình không bị theo dõi bởi một tên cảnh sát thời gian nào đó (cẩn thận vẫn hơn), tôi nhanh chóng hòa mình vào dòng người tấp nập trên con đường chính.

Quả không hổ danh là trung tâm thương mại hàng đầu của thời ấy! London cuối thập niên XX ồn ã, nhộn nhịp, và khẩn trương, thậm chí có phần choáng ngợp so với tưởng tượng ban đầu của một kẻ chỉ học về nó qua sách vở. Trên những con đường chính, các mẫu xe ô tô mới nhất của Ford đang lăn bánh. Ở cầu cảng trên sông Thames, thuyền bè, hàng hóa ra vào, nhưng những tiếng còi tàu vang vọng bị lấn át bởi tiếng của hàng ngàn người đi đường. Người mua kẻ bán tấp nập trong những con chợ. Có vẻ như dù mới chỉ qua nửa năm sau trận lụt lịch sử đầu tháng 1 năm 1928, nhưng thành phố đã hồi sinh lại bộ mặt thường ngày của nó.

Kế hoạch là đột nhập vào phòng thí nghiệm vào rạng sáng mai, nên tôi vẫn còn chút thời gian dư dả từ giờ đến lúc đó để ghé thăm đài thiên văn Hoàng gia Greenwich – nói cho cùng, kể cả kẻ không ưa khoa học như tôi cũng phải công nhận rằng ngắm sao ở đài thiên văn là một thú vui “gây nghiện”. Tôi chẳng còn nhớ đã bao lâu rồi mình không được nhìn ngắm bầu trời đêm một cách tử tế, ít nhất cũng phải từ lúc họ lôi tôi lên cái thành phố bụi mù và ô nhiễm ánh sáng kia, nơi ánh sao chẳng thể đọ được với đống bảng quảng cáo diêm dúa và đèn từ các tòa chung cư chọc trời.

Lúc tôi đến nơi thì đã xế chiều. Đứng trên đỉnh đài thiên văn, tôi phóng mắt ra khung cảnh công viên Greenwich. Đằng xa, trên đỉnh ngọn đồi phủ cỏ xanh, một thân cây cổ thụ xanh ngát tỏa bóng. Khung cảnh vừa lạ lẫm vừa thân quen ấy như mở khóa dòng ký ức tràn về ồ ạt trong tâm trí: cũng trên một ngọn đồi với bãi cỏ xanh, dưới bóng mát của tán lá nơi thiên nhiên che chở, mẹ từng cầm tay tôi hướng dẫn những nét vẽ đầu tiên, lưu giữ lại những thanh bình, giản dị tưởng chừng như kéo dài mãi mãi. Tôi chắp hai tay trên ngực và cầu nguyện:

“Cầu xin mẹ phù hộ cho con trai của mẹ đạt được ước nguyện. Chỉ một chút nữa thôi, và cuộc sống vui tươi xưa kia của chúng ta sẽ có thể trở về như cũ.”

Một đêm nữa thôi.

———————

Đêm, rạng sáng ngày 3 tháng 9.

Tôi đang đứng trước cửa khu nhà thí nghiệm của Fleming.

Hôm nay, đóng giả một viên thanh tra vệ sinh, tôi mang theo bên mình duy nhất một khẩu súng lục đề phòng trường hợp khẩn cấp nhưng không hề có ý định dùng nó. Thẻ nhân viên và phù hiệu giả là đủ để giúp tôi câu giờ để chuồn khỏi bất kỳ tình huống bất trắc nào. 

Chưa đầy ba mươi phút sau, tôi đã đột nhập thành công vào phòng thí nghiệm – những cánh cửa năm 1928 không là gì đối với công nghệ đột nhập của thế kỷ XXII. Chất đống lên trên băng ghế của căn phòng thí nghiệm bừa bộn là những mẫu tụ cầu khuẩn đang được nghiên cứu. Tôi giơ súng lên và ngắm thẳng vào chồng mẫu thí nghiệm ấy. Một phát súng nữa thôi và mẫu penicillin đầu tiên nằm trong chồng mẫu đó sẽ vụn thành từng mảnh.

Đúng lúc đó…

“Thưa quý ngài, quý ngài làm gì ở đây vào rạng sáng thế này?”

Đó là Alexander Fleming. 

Chết tiệt, tính toán của tôi đã sai ở đâu đó. Bối rối, tôi ngay lập tức chĩa thẳng nòng súng vào ông ta, tình cờ làm đổ một số mẫu. Úi.

“Ông làm gì ở đây?”

“Đây là phòng thí nghiệm của tôi, thưa quý ngài. Có lẽ câu hỏi đó phải là tôi hỏi quý ngài mới đúng. Ngài cần gì trong đống mẫu nghiên cứu này?” – Ông ta bình tĩnh hơn tôi tưởng.

“Không được cử động, và đừng nói gì hết. Đưa toàn bộ số mẫu tụ cầu khuẩn ông có ở kia cho tôi. Tôi muốn vứt bỏ chúng.”

“Đó là tất cả những gì quý ngài muốn sao? Được thôi: đó chỉ là vài chục trong số các mẫu tụ cầu khuẩn mà tôi bảo quản. Nếu quý ngài lấy đi, tôi vẫn còn mẫu khác thay thế. Tôi không thấy các mẫu mà quý ngài định lấy đi có gì quá quan trọng.”

Không, nó rất quan trọng đấy. Chỉ là ông không biết thôi, Fleming ạ. Một trong số chúng sẽ đưa ông trở thành vĩ nhân. Một trong số chúng sẽ trở thành “phép màu” thay đổi bộ mặt của y dược hiện đại – thứ phép màu mà tôi sẽ chấm dứt chỉ trong vài phút tới đây thôi…

“Chúng rõ ràng chẳng hề tạo ra chút kết quả khả quan nào. Tại sao ông lại phí hoài công sức và trí tuệ của mình để bấu víu vào một nghiên cứu vô vọng như vậy chứ?” – Tôi cố dùng tông giọng mỉa mai khiêu khích để che giấu đi sự run rẩy và lo lắng của mình. Và có thể, một hi vọng nhỏ nhoi nào đó, lời nói của tôi sẽ là giọt nước tràn ly để nhà khoa học tội nghiệp kia từ bỏ nghiên cứu của mình…

“Tôi đang định nghiên cứu một loại thuốc…”

Tôi biết. Nếu tôi không ở đây hôm nay, ông sẽ tìm ra trong tương lai không chỉ một loại, mà là cả một họ thuốc: từ penicillin G, hay còn gọi là benzylpenicillin, vắc xin tiêm cơ hoặc tiêm mạch máu chống viêm phổi, giang mai, bạch hầu và vô số loại bệnh khác đến penicillin V, phiên bản thuốc uống nhưng không kém phần hiệu quả, và còn nhiều nữa. 

Nhưng vì tôi ở đây hôm nay, ông sẽ không làm được điều đó đâu.

“…để chống lại bệnh viêm phổi do liên cầu khuẩn. Quý ngài thấy đấy, vừa hôm nọ tôi vừa nhận được báo cáo rằng bệnh dịch này, vốn đã hoành hành trong quân đội từ thế chiến, hiện đang có dấu hiệu đi lên.”

Nghe quen thật. Phải rồi. Trong thế chiến II bệnh này sẽ vẫn hoành hành, và không gì khác ngoài penicillin của ông đã giúp hàng triệu bệnh nhân khỏi bệnh. Đó là lý do mà thuốc của ông được gọi là “thần dược” nhỉ?

Ông sai rồi. Chỉ cần tôi tiêu hủy mẫu này, không chuyện gì trong số đó sẽ xảy ra đâu. 

“Hàng triệu bệnh nhân sẽ chết, nên tôi muốn ngăn cản việc đó.”

Họ sẽ chết ư?

Tôi cố gắng nhớ lại số người đã được cứu sống bởi thứ thuốc này. Hơn 80 triệu người. Liệu tôi có thực sự muốn đưa 80 triệu người này về cõi chết chỉ với phát súng này? Nhưng đổi lấy 80 triệu sinh mạng ấy là không ai khác mà chính là mẹ…

“Nếu tôi có thể hoàn thành thứ thuốc này càng sớm càng tốt, tôi chắc chắn sẽ cứu được nhiều binh lính.”

Tôi sẽ sẵn sàng đánh đổi chứ?

“Ông là người tốt.” – Tôi buông thõng tay súng xuống. Sau cùng, tôi cũng không có đủ can đảm làm việc ấy. 

“Cảm ơn vì lời khen của quý ngài.” 

“Tốt thôi. Tôi quyết định sẽ không lấy mẫu thí nghiệm của ông làm gì. Thực ra, để tôi nói với ông một điều: đừng bỏ sót một mẫu nào hết. Giờ, xin chào tạm biệt.”

Tôi bước ra khỏi cửa, bỏ lại Fleming đằng sau.

————————-

Tôi nhìn lại di ảnh mẹ trong chiếc mề đay, hai tay chắp trước ngực:

“Xin mẹ tha lỗi cho đứa con bất hiếu đã không thể trả thù cho mẹ.”

Tôi đã thất bại hoàn toàn. Hãy cứ cho là tôi suy xét đến hậu quả của sự biến mất này đến nền kinh tế thế giới khi đó và nó sẽ bằng một cách nào đó ảnh hưởng đến cái kết hạnh phúc tôi hướng đến. Tôi tự nhủ mình là như vậy, vì chỉ nghĩ đến việc mình từ bỏ cuộc sống bên mẹ và thiên nhiên xinh đẹp bởi lòng thương cảm những kẻ thấp hèn ấy thôi cũng làm tôi ghê tởm chính bản thân mình. Tôi quá hèn nhát. Quá yếu đuối. Quá đa cảm. Con người, khoa học – chúng không xứng đáng với bất kỳ tình thương và sự cảm thông nào. Nếu thực sự muốn trả thù, tôi cần có một cái đầu lạnh hơn, một kế hoạch tường minh, chi tiết và cẩn thận hơn. Có lẽ một phần sự xuất hiện ngoài ý muốn của Fleming đã làm bộ não tôi đình trệ trong giây phút quyết định.

Quay về bàn làm việc với tâm trạng trống rỗng, tôi không thấy bài giảng trong lễ nhận giải Nobel của Fleming đâu. Rõ ràng tôi đã để nó trên mặt bàn trước khi đi mà.

Chẳng lẽ tôi đã thay đổi lịch sử?

Tôi vội vàng tìm lại bài phát biểu ấy. Trong bài phát biểu có trích đoạn:

“…penicillin là một phát minh tình cờ của tôi. Thực tế, tôi đã không chú ý đến mẫu thí nghiệm ấy – một nhà tiên tri mà tôi tình cờ gặp đã nói cho tôi về quan sát này…”

Chắc là tôi đấy. Thôi vậy, chuyện gì đã qua thì cứ cho qua.

Tôi nhìn lại cuốn sổ của mình. 

Nhớ lại đi nào, thằng kia. Cô giáo lịch sử đã dạy mày cái gì?

“…Cách mạng công nghiệp được xúc tác bởi một mạng lưới giao thông vận tải hùng hậu…”

Lại một lần nữa, ý tưởng lóe sáng trong đầu tôi.

Nhưng lần này, sẽ không có hai từ “thất bại”.

——————————————————————————-

Hmm, there are so many ways to start this plan. I could go to the most distant past and smash the great stronghold named “science” right from its foundations. However, the time machine has just been able to run; thus, I can’t risk going too far: there’s no guarantee that my first try would work out right away; plus, the consequences of changing the past will be more unpredictable if I do so. Need a more careful plan than that. Slow, yet steady. Time is on my side in this fierce battle anyway.

Besides, human life has always so heavily depended on scientific inventions that even just one historically important invention “vanishing into thin air” alone is enough to change hundreds of millions of people’s fates… An ingenious idea flashes through my mind. EUREKA! MEDICINE! That’s right, I should have thought of it at the beginning! Humans have been living for too long with their stupidity, and their insane reproduction rate. As long as I find a medical invention that is influential enough, yet was invented in such coincidence that its non-existence would be perfectly reasonable. The remaining work is only counting on the impatience of mankind who would stop research once no satisfactory results are obtained. With fewer people, urbanization would be delayed by a few decades, even by centuries: at least long enough for me to see my mother aging by my side, on the green grass, in the vast and lively forest…

Combining all the factors from ability and development to destination and time, I have found the perfect goal for myself: Penicillin – the so-called legend that paved the way for world medicine. Yes, it’s the antibiotic famously known as the “panacea” of the 20th century. Considered one of the most widely developed drug classes, Penicillin has brought unprecedented efficacy in the history in treating diseases related to Gram-positive bacteria, including many infamously dangerous ones like gonorrhea, pneumonia, or meningitis (the more deadly type caused by bacteria rather than viruses as many have mistaken). The invention that helped Alexander Fleming earn a Nobel Prize in Medicine along with his reputation as the initiator of the “antibiotic revolution” in Pharmacy’s history two hundred years ago would now – or rather, long after humanity knows that it exists –  make me the initiator of a whole new revolution – the one that eradicates science of all humanity.

I’m ready.

“The destination has been confirmed: September 2, 1928, London. Preparing to go into space-time. ” – The sound echoing from the controller makes me shudder at what I’m about to do, and the possible consequences, whatever that is.

Sorry, Fleming. Perhaps you should never have found it in the first place.

——————–

London, September 2, 1928.

The time machine has taken me into this small, dark, and damp alley. After checking for a while to make sure I’m not being watched by some time-policemen (should always be careful, still), I quickly immersed myself in the hustle and bustle stream of people on the main road.

As expected of the top commercial center of its time! London in the late twenties was noisy, bustling, and urgent, even somewhat overwhelmed compared to the initial visualization of a man who only learned about it through books. On the main roads, the latest models of Ford cars are traveling. At the jetty on the River Thames, boats and goods are going in and out, yet the echoes from ships’ horns are still overwhelmed by the sound of thousands of passengers and all other kinds of people. The markets are packed with buyers and sellers. It seems that even though only half a year has passed since the historic flood in early January 1928, the city has revived its usual state.

Since the plan was to infiltrate into the laboratory in the early morning the next day, I still have some spare time from now until then to visit the Royal Greenwich Observatory – after all, even those who dislike science as much as I do must also admit that stargazing at the observatory is an “addictive” hobby. I don’t remember when was the last time I had the chance to properly look at the night sky, probably at least since they dragged me to that dusty city, where light pollution is so severe that the stars couldn’t outshine a bunch of flashy billboards and artificial lights from skyscrapers.

By the time I arrived, it was late afternoon. Standing at the top of the observatory, I set my eyes on the view of Greenwich Park. In the far distance, on the top of the hill covered with green grass, an ancient tree is covering. The strange-yet-familiar scenery unlocked a vigorous stream of memories flooding through my mind: also on a hill with green grass, under the shade of foliage where nature protected me, my mother used to hold my hand. guide the first strokes, save the peace, simplicity seems to last forever. I folded my hands on my chest and prayed:

“May you bless my wish, mother. Just a little more, and our happy old life will be able to return to the way it was. ”

Just one more night.

———————

The rising dawn on September 3.

I’m standing here, right in front of Fleming’s laboratory.

Disguised as a sanity inspector, I bought with myself only a small pistol in case – yet I had no intentions to actually use it. The fake ID card and badge were probably sufficient to buy time for me to escape in any situation.

Less than 30 minutes after, I had already infiltrated all the way into Fleming’s room – the 1928 doors are no match against the hacking technologies of the 22nd century. On the sofa at the corner of the messy room were a pile of Staphylococcus bacteria samples under research. I swiftly raised my gun and aimed at that pile. One shot, and the first penicillin sample in history will be reduced to debris.

Right at that moment…

“Sir, what are you doing here so early?”

Alexander Fleming appeared behind me.

Goddamn it, I must have made some serious miscalculations. In the brink of the moment, I quickly turned and pointed my gun directly at his forehead, my elbow knocking some samples onto the ground in the process. Ouch.

“What are you doing here?”

“This is my laboratory sir. Besides, I probably should be the one asking you that question. What do you want from me, sir?”

“Don’t move, and don’t utter a single word. Give me all those Staphylococcus samples – I will dump them myself.”

“Is that all you want sir? Fine – those are just some of the many samples that I have in store. There are always replacements if I need. I don’t see particular importance in the samples that you want to take from me.”

No, they are actually the most important ones Fleming. It’s just that you don’t know. One of those in particular would turn you into one of the most celebrated scientists of all time. That one would also be hailed as the “miracle” that forever changed modern studies of medicine, and I am going to end that miracle right here, right now.

“Your research’s progress is just stagnant beyond repair. Why would you waste your efforts in clinging to such a desperate research project?” – I tried to use a sarcastic voice to hide my worries. The precondition for my success is for him to give up – my dampening speech might do just that…

“Well, you see sir, I am working on a type of medicine…”

I know I know. If I’m not here today, you would not find just one, but a whole array of medicines. Form Penicillin G, or benzylpenicillin, a vaccine injected into the veins or muscles that can cure pneumonia, syphilis, diphtheria and many more, to Penicillin V, a drinkable but as effective variant, to other types of them as well. 

But again, since I’m here today, you can practically dream about that.

“… to cure staphylococcal pneumonia. You can see, just the other day I received a report that this disease, having ravaged the troops during the war, are currently on another rise.”

Right, that sounds familiar. In the Second World War, this disease would still ravage, and your medicine cured millions of them. That was probably why your medicine was called a “miracle cure” right?

Of course none of that would happen if I get rid of these stupid samples, you know.

“Millions would die of this disease, so I want to stop it.”

They will die?

I tried to remember the number of people saved by this medicine. More than 80 million. Am I really willing to send those people to hell just with this trigger of the gun? On the other end of that exchange would be my mother…

“If I can finish this as soon as possible, I will definitely save many of those lives.”

Do I dare to exchange?

“You are a man worthy of praise.” – My gun-raising arm let loose. In the end, I did not have the courage to do so.

“Thank you for your compliment sir?”

“Oh well. I have decided that your samples are not worth it for me. You can keep investigating them. In fact, let me tell you: investigate ALL of them. You would not regret it. Now, farewell.”

I stepped out of the door, leaving a frustrated Fleming behind.

—————————-

I looked at the portrait of my mother, my two hands on my chest:

“Mother, please forgive this son for not being able to get revenge for you.”

I failed miserably. “I just let slip of this because its consequence on the world’s economy would be too harsh for my dream scenario” – I mumbled to console myself, because the mere thought of me giving up my dream to live happily beside my mother for these dirty scoundrels would just be disgusting. I was a weakling, reeked of emotions that I should not have even considered having. Human, science – they don’t deserve the least of any love or sympathy. If I am really to revenge my mother, I should be more cold-minded with a more detailed plan. The unexpected appearance of Fleming might have distorted my thoughts at that very crucial moment.

Disillusioned as I returned to my working desk, I spotted no trace of Fleming’s Nobel lecture. I clearly remembered leaving it on my table before leaving. 

Could it be that I have changed history?

I quickly recovered a copy of it online. Inside of it were those lines:

“…penicillin came to me as an unexpected observation. In fact, I did not pay attention to that sample – a fortune teller that I bumped into has told me about this discovery…”

Yep, that was definitely me. Well, let bygones be bygones.

I look at my planning notebook.

Try to remember, you fool. What did your history teacher tell you?

“…The Industrial Revolution was fueled by an extensive transportation network…”

An idea suddenly came to my head, yet again.

But this time, there would be no such thing as “failure”.

[ScientiFact #1]

English

Du hành thời gian

I.       Giới thiệu 

Du hành thời gian từ lâu đã là một chủ đề quen thuộc trong vô số những cuốn truyện viễn tưởng mỗi người ưu ái đặt trong tủ sách của riêng mình. Trong số những thành công trong thể loại này, có lẽ cuốn “già” nhất về tuổi đời là tiểu thuyết Cỗ máy thời gian của H. G. Wells, kể về chuyến hành trình của nhân vật chính trong cỗ máy thời gian của mình để đi tới tương lai xa và trở về hiện tại. Đã rất nhiều năm trôi qua kể từ khi Cỗ máy thời gian được phát hành, những cốt truyện liên quan đến du hành thời gian cũng cho thấy sự “tiến hóa” rõ rệt về cả chất lượng và số lượng, điều này có thể thấy rất rõ trong bộ phim truyền hình Doctor Who và Star Trek của thập niên 60’ – nơi du hành thời gian gần như đã trở thành “nhân vật chính” chiếm lấy sự chú ý của khán giả. Ngày nay, có cảm giác như bất cứ nơi đâu cũng có sự hiện hữu những cuốn tiểu thuyết du hành thời gian. Tuy nhiên, câu hỏi lớn nhất vẫn còn đó đối với nhiều độc giả: du hành thời gian chỉ là khoa học viễn tưởng, hay nó có thật? Hôm nay, P.R.I.S.M. sẽ giúp các bạn làm rõ một số nhầm lẫn liên quan đến vấn đề này.

II.      Về mặt khoa học, du hành thời gian có khả thi không ?

Du hành thời gian là khả thi. Chỉ đơn giản vậy thôi.

Tất nhiên, trước hết ta cần định nghĩa được du hành thời gian là gì. Tiến về phía trước thì cực dễ. Trên thực tế, chúng ta đang làm điều đó hàng ngày trong từng giây từng phút của cuộc đời mình và mọi thứ quanh ta cũng vậy. Đến đây, bạn có thể phản bác lại rằng: “Nhưng chúng ta chỉ có thể “đi” với một tốc độ duy nhất, theo một hướng duy nhất. Vô nghĩa.”

Đó là cách nhận thức về thời gian trước thế kỷ 20: một dòng chảy ổn định, liên tục và độc lập với tất thảy những thứ khác trong vũ trụ. Tuy nhiên, tất cả đã thay đổi với sự xuất hiện của Albert Einstein. Với Thuyết tương đối hẹp của mình, ông đã chỉ ra rằng thời gian là – như đã nói ngay từ cái tên của lý thuyết – tương đối. Hóa ra “anh bạn này” có một sự gắn bó vô cùng chặt chẽ với không gian và đóng vai trò là chiều thứ tư của không-thời gian. Sự chảy trôi của thời gian là khác nhau đối với những người quan sát khác nhau di chuyển trong không gian với tốc độ khác nhau. Ví dụ: nếu bạn di chuyển với tốc độ bằng 99,99% tốc độ ánh sáng so với Trái đất trong một năm, khi bạn quay lại, 71 năm sẽ trôi qua. Vậy là bạn đã du hành thời gian đến tương lai xa. Dễ như ăn kẹo vậy đó!

III. Nếu điều duy nhất đã lôi kéo bạn đọc đến dòng này là để tìm được đáp án cho câu hỏi: Đi ngược thời gian có phải chỉ là viễn tưởng? 

Không. Không hẳn. Hãy tạm thời dẹp thường thức sang một bên và nhìn vấn đề này dưới một con mắt thuần lý thuyết. Không phải là tiểu thuyết viễn tưởng rẻ tiền như nhiều người lầm tưởng, đây thực tế là một vấn đề đã tốn bao nhiêu công sức của các nhà khoa học.

Theo Thuyết tương đối hẹp, khi được quan sát bởi một người chuyển động nhanh khác, một tín hiệu di chuyển nhanh hơn tốc độ ánh sáng đối với một người (được coi là đứng yên) đi ngược thời gian với một người khác đang di chuyển rất nhanh (Giải thích rõ trong [1] với giản đồ không-thời gian – một công cụ phổ biến để nghiên cứu về thuyết tương đối).  Đó cũng được coi là một hình thức du hành thời gian. Tuy nhiên, vì dường như không có cách nào để đẩy tốc độ vượt quá tốc độ ánh sáng (vì điều đó đòi hỏi năng lượng vô hạn), có lẽ chúng ta đã đi vào ngõ cụt. 

Quả thực đã là như vậy, cho đến khi Einstein (đúng vậy, lại là ông ấy) vứt bỏ  thêm một quan niệm nữa cho rằng không gian và thời gian là phẳng vào năm 1915 với Thuyết tương đối rộng của mình (Một lý thuyết “khép tội” kẻ gây ra lực hấp dẫn là độ cong của không-thời gian – thứ bị ảnh hưởng bởi năng lượng và vật chất. Nghe ly kỳ quá nhỉ ?). Lý thuyết này ngụ ý rằng thời gian trôi với tốc độ khác nhau trong các trường hấp dẫn khác nhau. Đây là một hiệu ứng có thể nhận thấy: nếu không xét đến các hiệu ứng tương đối, vị trí mà GPS định vị cho chúng ta sẽ bị lệch đi vào cỡ 10km mỗi ngày. Và nhà vật lý đã sớm phát hiện ra rằng, nếu không-thời gian bị uốn cong đủ mạnh, các vòng lặp thời gian có thể hình thành và việc du hành ngược thời gian sẽ là khả thi, ít nhất là trong phạm vi của Thuyết tương đối rộng.  

Tuy nhiên, tất cả các viễn cảnh có thể xảy ra đều rất kỳ quái. Đầu tiên, có những lỗ sâu, nối hai điểm tách biệt trong không gian. Nhưng một lỗ sâu chỉ có thể được làm ổn định bằng vật chất có mật độ năng lượng âm. Mặc dù nghe có vẻ rất lạ, thực tế, năng lượng âm đã được tạo ra bởi các thí nghiệm (tham khảo hiệu ứng Casimir) nhưng lượng thu được là cực kỳ, cực kỳ, cực kỳ nhỏ (*sidenote* Chào mừng đến với Lượng tử giới). Một khả năng khác là các dây vũ trụ (cosmic strings) – các vật thể giả định khổng lồ còn sót lại từ Vụ nổ lớn.

Xét đến tính không ổn định của một số phương pháp du hành thời gian mà chúng ta đã biết, một số nhà khoa học đưa ra giả thuyết rằng điều này chỉ có thể được thực hiện ở cấp độ vi mô, còn ở cấp độ vĩ mô thì gần như là không thể [2]. Một số người nghĩ rằng việc du hành ngược về quá khứ là hoàn toàn bất khả thi, bởi sẽ có một số định luật chống lại nó. Điều duy nhất chúng ta có thể chắc chắn là vấn đề này sẽ không được giải quyết triệt để cho đến khi chúng ta hiểu đầy đủ về vũ trụ – cho đến khi chúng ta tìm ra Thuyết vạn vật, lý thuyết thường được cho là một lý thuyết hấp dẫn lượng tử.

 IV. Các viễn cảnh hệ quả có thể xảy ra nếu du hành thời gian về quá khứ

Ở các mục trên, chúng ta đã xem xét các cơ sở khoa học có thể có cho việc du hành thời gian. Để kết lại, hãy cùng xem xét các câu hỏi về vấn đề này dưới góc độ triết học và logic nhé.

  1. Một cỗ máy thời gian đưa người sử dụng trở về quá khứ, hết chuyện. Đúng chứ?

Mọi thứ đâu đơn giản như vậy. Có một vấn đề về du hành thời gian thường không được đề cập trong phim ảnh. Nếu môi trường có không khí, các phân tử khí sẽ va chạm với người du hành thời gian, ngay lập tức “chia năm xẻ bảy” (theo nghĩa đen) anh chàng tội nghiệp. Trong khi đó, ở đầu kia của cuộc hành trình, không khí sẽ bị hút vào một môi trường chân không được tạo ra.

Bạn có thể tự hỏi tại sao du hành trong không gian lại không gây ra vấn đề tương tự. Hãy tưởng tượng một thế giới một chiều, nơi một hạt dù di chuyển theo bất kỳ hướng nào cũng chắc chắn sẽ va chạm với các hạt khác. Có vẻ là phải cần tới hai chiều không khí mới dịch chuyển liên tục được như chúng ta quen thuộc. Tuy nhiên, với những gì ta biết, chỉ có một chiều thời gian. Thế nên là… chúc may mắn với hướng suy nghĩ này nhé *how to insert a wink*

Một giải pháp được đề ra là cỗ máy thời gian phải có thể vận chuyển đồng thời hai thứ theo hai hướng ngược nhau: người du hành thời gian về quá khứ và không khí đến hiện tại. Nếu tồn tại một “sợi dây” kết nối cụ thể hai đầu mút (đích đến và điểm bắt đầu) – ví dụ như lỗ sâu – có thể đây là điều sẽ xảy ra.

  1. Nghịch lý ông nội: Giải quyết thế nào?

Đây có lẽ là nghịch lý phổ biến nhất liên quan đến du hành thời gian. Một phiên bản của nghịch lý này được trình bày trong bộ phim nổi tiếng nhất về du hành thời gian: Back to the Future (1985) (*spoiler alert*), trong đó Martin đe dọa đến sự tồn tại của chính mình khi anh can thiệp vào lúc bố mẹ anh ta mới yêu nhau. Hãy nghĩ về điều này một chút nào. Nếu bố mẹ Martin không bao giờ trở thành một cặp vợ chồng và Martin “biến mất vào hư không” chỉ ngay vào giây phút quyết định ấy, vậy anh ta chui ra từ đâu thế? Hay liệu Martin sẽ bị xóa sổ khỏi dòng thời gian? Nếu vậy, sẽ không có ai ngăn cản cha mẹ anh ta cả, và Martin vẫn được sinh ra như bình thường.

Có hai lý thuyết phổ biến để giải quyết nghịch lý này.

Lý thuyết thứ nhất là thuyết đa vũ trụ: mỗi lần bạn du hành ngược thời gian, một dòng thời gian mới lại tách ra để tạo ra một vũ trụ thứ hai. Điều gì xảy ra với bạn trong dòng thời gian đó không ảnh hưởng đến dòng thời gian ban đầu. Đây nhiều khả năng là những gì đã xảy ra trong Avengers: Endgame (*spoiler alert 2*), khi sự ra đi của Thanos trong tương lai đã tạo ra một dòng thời gian trong đó gã siêu phản diện kia chỉ biến mất và không bao giờ quay lại để búng tay.

Cái thứ hai có một cái tên “sang chảnh” hơn: nguyên lý tự thống nhất của Novikov. Tuy vậy, ý tưởng của nó cũng khá đơn giản. Nó phát biểu rằng: quá khứ không thể thay đổi. Đây là cách mà du hành thời gian được “áp dụng” trong Harry Potter và Tù nhân Azkaban (*spoiler alert 3*). Hành động của Harry và Hermione trong tương lai tác động trực tiếp tới họ khi lần đầu sống qua 1 thời điểm cụ thể của “hiện tại”, mặc dù trước đó bộ đôi không thể giải thích những tác động đó (ví dụ như Bùa hộ mệnh – Patronus Charm).

Mặc dù lý thuyết này có vẻ phù hợp về mặt logic, nhưng nó có một hệ quả đáng ngại. Người du hành thời gian không hề có quyền tự do quyết định, bởi hành động của họ đã xảy ra trong quá khứ. Họ không thể thay đổi các sự kiện mặc dù có muốn đi chăng nữa. Cuộc thảo luận này lại đưa ta trở về câu hỏi liệu rằng chúng ta đã bao giờ có quyền tự do quyết định chưa: có thể có điều gì đó quyết định “hộ” ta những thứ bộ não vật lý của ta xem là xác suất (do bản chất bất định của lý thuyết lượng tử), nhưng khi du hành về quá khứ, những đặc tính bất định đó bị giới hạn chỉ trong một hành động duy nhất. Đó là một chút suy nghĩ của tác giả. Còn bạn, bạn thấy thế nào?

  1. Vòng lặp nhân quả

Du hành thời gian sẽ dẫn đến câu hỏi về các vòng lặp nhân quả – trong đó nguyên nhân của một sự kiện là hậu quả của nó. “Sự kiện” ở đây cũng có thể là một đối tượng hoặc thông tin. Hãy lấy ví dụ về một người du hành thời gian đánh cắp cỗ máy thời gian từ bảo tàng địa phương để thực hiện chuyến du hành thời gian của mình và sau đó tặng cỗ máy thời gian cho cùng một bảo tàng vào cuối chuyến đi (tức là trong quá khứ). Trong trường hợp này, thực tế, cỗ máy thời gian kia vốn chưa bao giờ được chế tạo bởi bất kỳ ai. Cũng có một vòng lặp nhân quả trong Interstellar (*spoiler alert 4*): những sinh vật năm chiều biết phải chọn Murphy vì họ biết rằng điều gì sẽ xảy ra.

Nếu cứ cố ngồi nghĩ về điều này, bạn sẽ khá khó chịu và bức bối vì chúng dường như không vi phạm bất kỳ một nguyên tắc logic hay vật lý nào. Một số tác giả cho rằng những vòng lặp này đúng là không thể giải thích được, nhưng đó không phải là vấn đề lớn. Có lẽ việc này có liên quan đến các cuộc tranh luận về Nguyên lý đủ lý do (Principle of sufficient reason) [2]. Một số lại nghĩ các vòng lặp ấy là không thể.

  1. Liệu tương lai và quá khứ có tồn tại?

Cuối cùng, hãy nghĩ một chút chỉ về bản chất thời gian mà thôi. Ta sẽ xem xét hai quan điểm trái ngược: thuyết hiện tại và thuyết vĩnh cửu. 

Thuyết hiện tại cho rằng chỉ có các sự vật, sự việc… trong hiện tại là tồn tại: bạn tồn tại, nhưng cả tổ tiên lẫn cháu chắt của bạn đều không tồn tại, ít nhất là trong lúc này. Nếu quan điểm này là đúng thì làm sao ta có thể du hành về quá khứ hay tương lai – những thứ thậm chí còn chẳng tồn tại? 

Trong khi đó, chủ nghĩa vĩnh cửu cho rằng mọi thứ trong quá khứ và tương lai đều có thật như mọi thứ hiện tại. Hiện thực chứa đựng toàn bộ thời gian chứ không chỉ là một lát cắt của nó. Trong viễn cảnh này, du hành thời gian là điều có thể hiểu được, vì những người du hành thời gian chỉ đơn thuần vượt qua một chiều của thực tại (nhưng tất nhiên điều này không phải là chắc chắn khả thi).

Tài liệu tham khảo cho bài viết:

[1] http://www.physicsmatt.com/blog/2016/8/25/why-ftl-implies-time-travel

[2] https://www.scientificamerican.com/article/according-to-current-phys/ Gary T. Horowitz, John L. Friedman

Time Travel: Theories, Paradoxes & Possibilities – Space.com

https://www.space.com/21675-time-travel.html

Is time travel possible? – MIT OCW Lecture notes

Time travel – Bryan J. Méndez, University of California, Berkeley

http://cse.ssl.berkeley.edu/bmendez/html/time.html

Smith, Nicholas J.J., “Time Travel”, The Stanford Encyclopedia of Philosophy (Summer 2019 Edition), Edward N. Zalta (ed.), URL = <https://plato.stanford.edu/archives/sum2019/entries/time-travel/>.

Markosian, Ned, “Time”, The Stanford Encyclopedia of Philosophy (Fall 2016 Edition), Edward N. Zalta (ed.), URL = <https://plato.stanford.edu/archives/fall2016/entries/time/&gt;.

Meyer, U. (2012). Explaining causal loops. Analysis, 72(2), 259–264. doi:10.1093/analys/ans045 

Smeenk, Chris & Wuthrich, Christian. (2009). Time Travel and Time Machines. The Oxford Handbook of Philosophy of Time. 10.1093/oxfordhb/9780199298204.003.0021. 

Phần đọc thêm cho bạn đọc quan tâm: 

(Mẹo nhỏ: Bạn có thể bỏ qua các phép toán và hoàn toàn vẫn tìm hiểu được về những kiến thức và lý thuyết không dễ tìm ở các bài báo hay bài đăng trên blog)

https://www.space.com/20881-wormholes.html

https://www.space.com/40716-time-travel-science-fiction-reality.html

Michael S. Morris, Kip S. Thorne, and Ulvi Yurtsever, “Wormholes, Time Machines, and the Weak Energy Condition,” Physical Review Letters, 61, 1446-1449 (1988).

Morris, M. S., & Thorne, K. S. (1988). Wormholes in spacetime and their use for interstellar travel: A tool for teaching general relativity. American Journal of Physics, 56(5), 395–412.

Can You Really Go Back in Time by Breaking the Speed of Light? NOVA – PBS

https://www.pbs.org/wgbh/nova/article/can-you-really-go-back-in-time-by-breaking-the-speed-of-light/

Johnson, D. (2016). Does Free Will Exist? Retrieved May 31, 2020, from https://www.academia.edu/9334916/Does_Free_Will_Exist

Ananthaswamy, A. (2017, May 31). Your Brain Is a Time Machine: Why we need to talk about time. Retrieved May 31, 2020, from https://www.newscientist.com/article/2132847-your-brain-is-a-time-machine-why-we-need-to-talk-about-time/

ScientiFact #1: Time travel

  1. Introduction 

Time travel has long been the subject of endless fiction stories which delight people around the world. Perhaps the oldest successful one was H.G.Wells’ The Time Machine, in which the main character use his time machine to travel to the distant future and back to the present. Over the years, the plots involving time travel have evolved a lot, as evident in the major roles time travel played in TV series Doctor Who and Star Trek of the 1960s. Today, time travel novels are all over the place. However, the biggest question remains for many readers: is time travel just science fiction, or is it real? Today, P.R.I.S.M. will attempt to clarify some of the confusion regarding this.

  1. Scientifically, is time travel possible?

Time travel is possible. As simple as that.

Of course, we need to define time travel first. Forward is easy. In fact, we are travelling through time every second of our life, and so is everything else. You may say, “But in just one possible speed, in one possible direction. Meaningless.” 

That was how time was perceived before the 20th century. A steady, constant current flowing independently of everything else in the universe. However, everything changed with the arrival of Albert Einstein. With his theory of special relativity, he showed that time is, well, relative. Time turned out to be inextricably linked to space as the fourth dimension of spacetime. Time flows differently for different observers travelling at different speeds. For example, if you travel at 99.99 percent the speed of light relative to Earth for one year, when you return, 71 years will have passed. Easy peasy.

  1. Hey, you know I’m only interested in travelling backwards. That’s just science fiction, right? 

No. Not really. Setting aside common sense, let’s view this from a purely theoretical framework. It’s not cheap fiction as you may think. Scientists have poured efforts into it.

According to special relativity, a faster than light signal for one person (regarded as stationary), when viewed by another fast-moving person, travels backward in time (Explained clearly in [1] with spacetime diagrams – a common tool for relativity). That’s a form of time travel. However, since there are seemingly no ways to push the speed past that of light, as it will require infinite energy, perhaps we are stuck.

That is, until Einstein (yes, it’s him again) threw away another notion about space and time being flat with his general theory of relativity in 1915 (A theory attributing gravity to the curvature of spacetime, which is shaped by energy and matter. Beautiful, isn’t it?). It implies that time flows at different rates in different gravitational fields. This is a tangible effect: if the relativistic effects aren’t accounted for, the position the GPS gives us will be off each day by orders of 10km. And physicists soon found out that, if spacetime is curved strongly enough, time loops can form, and travelling backward through time is possible, at least within the realm of general relativity.

However, all of these possible scenarios are exotic. One theory is that time travel may be made possible by (hypothetical) wormholes, which connect two distant points in space. But a wormhole can only be stabilized by matter with negative energy density. As strange as it may sound, negative energy has been created by experiments – see Casimir effect – but the amount was way too small (we’re entering the quantum realm). Another possibility is cosmic strings – hypothetical gigantic objects left over from the Big Bang.

Considering the instability of some time travel methods known to us, some scientists hypothesized that it may be possible only in microscopic scale, not in macroscopic scale [2]. Some think it is not possible at all, and there will be some laws to prevent it. The only thing we can be sure of is that the issue will not be resolved until we get a full understanding of the universe – until we have a Theory of Everything, commonly thought to be a quantum gravity theory. 

IV. Possible implications of time travel to the past

Now, let’s talk about the philosophical aspects.

  1. A time machine transports the user back to the past. End of story.

Not that simple. This is a problem about time travel not usually addressed in movies. If the air is still there, it will collide with the time traveler, instantly killing the poor lad by rupturing the body. Meanwhile, at the other end of the journey, air will be sucked into the vacuum created by the departure.

You may wonder why travelling in space does not cause the same issue. Imagine an one-dimensional world, where a particle travelling in any direction would surely collide with and compress other particles. It seems that two dimensions are required for a continuous displacement of air that we are familiar with. However, as far as we know, there is only one dimension of time. So, good luck with that thought.

A solution would be requiring the time machine to transport things in two directions simultaneously: the time traveler to the past and the air to the present. If there exists a concrete connection between the two ends, such as a wormhole, maybe this is what would happen.

  1. Grandfather paradox: How to resolve?

This is probably the most popular paradox associated with time travel. A version of this paradox is presented in perhaps the most famous movie about time travel: Back to the Future (1985), in which Martin threatens his existence by interfering with his parents’ early relationship. Consider this. If his parents do not become a couple, and Martin dies from that instant only, where does he come from? Alternatively, would Martin be wiped out of time? If so, there is no one to prevent his parents in the first place, and he would be born as normal. 

There are two popular theories to resolve the paradox. 

The first one is the multiverse theory: each time you travel back in time, a new timeline branches off to create a second universe. What happens with you in that timeline does not affect the original timeline. This is likely what happened in Avengers: Endgame, when the departure of Thanos into the future created a timeline in which the supervillain just disappeared and never comes back to snap his fingers.

The second one has a fancier name: the Novikov self-consistency principle. The idea is simple, though. It states that the past cannot be changed. This is how Harry Potter and the Prisoner of Azkaban treats time travel. The actions of future Harry and Hermione show their impacts when they first experience the moment, though their earlier selves cannot explain those impacts (the Patronus Charm, for instance).

Although this theory seems to be logically consistent, it has an ominous implication. The time-travelling self has no free will at all, because their actions have already happened in their past. They cannot change the events even though they might want to. This discussion may lead us back to the question if we have free will at all: maybe there is something to decide for us what our physical brains see as possibilities (due to quantum theory’s non-deterministic nature), but when travelling to the past, those non-deterministic properties are restricted down to just one course of action. That’s just a line of thought. What do you think?

  1. Causal loops

Time traveling would introduce the problem of causal loops – where the cause of an event is its effect. The “event” here can also be an object or information. An example is that a time traveller who steals a time machine from the local museum in order to make his time trip then donates the time machine to the same museum at the end of the trip (i.e. in the past). In this case the machine itself is never built by anyone—it simply exists. There is a causal loop in Interstellar: the five-dimensional beings know to choose Murphy because they know that’s what would happen.

When you give it some thoughts, you would be frustrated that they do not seem to violate any logical or physical principle. Some authors maintain that these loops are inexplicable, but that’s no big deal. Maybe this is related to the debates surrounding the Principle of Sufficient Reason [2]. Some think that they are impossible.

  1. Do the future and the past exist?

Finally, let’s think a bit about time itself. We will consider two opposite views: presentism and eternalism. Presentism holds that only present objects exist: you exist, but neither your ancestor nor your great-great-grandchildren exists, at least for the time being. If this view is true, then how can anyone travel to the past or future, as they don’t even exist? Meanwhile, eternalism holds that everything in the past and future is as real as anything at present. Reality contains the entire time, not just a slice of it. In this scenario, time travel is understandable, as time travelers merely transverse a dimension of reality (but of course, not decidedly possible).

References:

[1] http://www.physicsmatt.com/blog/2016/8/25/why-ftl-implies-time-travel

[2] https://www.scientificamerican.com/article/according-to-current-phys/ Gary T. Horowitz, John L. Friedman

Time Travel: Theories, Paradoxes & Possibilities – Space.com

https://www.space.com/21675-time-travel.html

Is time travel possible? – MIT OCW Lecture notes

Time travel – Bryan J. Méndez, University of California, Berkeley

http://cse.ssl.berkeley.edu/bmendez/html/time.html

Smith, Nicholas J.J., “Time Travel”, The Stanford Encyclopedia of Philosophy (Summer 2019 Edition), Edward N. Zalta (ed.), URL = <https://plato.stanford.edu/archives/sum2019/entries/time-travel/>.

Markosian, Ned, “Time”, The Stanford Encyclopedia of Philosophy (Fall 2016 Edition), Edward N. Zalta (ed.), URL = <https://plato.stanford.edu/archives/fall2016/entries/time/&gt;.

Meyer, U. (2012). Explaining causal loops. Analysis, 72(2), 259–264. doi:10.1093/analys/ans045 

Smeenk, Chris & Wuthrich, Christian. (2009). Time Travel and Time Machines. The Oxford Handbook of Philosophy of Time. 10.1093/oxfordhb/9780199298204.003.0021. 

Further readings: 

(Note: You can skip the math and still learn useful insights and qualifications that are not presented in news articles or blog posts.)

https://www.space.com/20881-wormholes.html

https://www.space.com/40716-time-travel-science-fiction-reality.html

Michael S. Morris, Kip S. Thorne, and Ulvi Yurtsever, “Wormholes, Time Machines, and the Weak Energy Condition,” Physical Review Letters, 61, 1446-1449 (1988).

Morris, M. S., & Thorne, K. S. (1988). Wormholes in spacetime and their use for interstellar travel: A tool for teaching general relativity. American Journal of Physics, 56(5), 395–412.

Can You Really Go Back in Time by Breaking the Speed of Light? NOVA – PBS

https://www.pbs.org/wgbh/nova/article/can-you-really-go-back-in-time-by-breaking-the-speed-of-light/

Johnson, D. (2016). Does Free Will Exist? Retrieved May 31, 2020, from https://www.academia.edu/9334916/Does_Free_Will_Exist

Ananthaswamy, A. (2017, May 31). Your Brain Is a Time Machine: Why we need to talk about time. Retrieved May 31, 2020, from https://www.newscientist.com/article/2132847-your-brain-is-a-time-machine-why-we-need-to-talk-about-time/

[Fragments of Science #1]

English

Có lẽ ai cũng từng một lần mơ ước được sở hữu một chiếc áo choàng tàng hình. Tuy nhiên, rõ ràng là để trở nên vô hình là cả một thử thách rất lớn: những nỗ lực để đạt được điều này đã bắt đầu từ sớm nhất là sự ra đời những chiếc máy bay tàng hình đầu tiên với lớp phủ và thiết kế tối ưu để “chơi đùa” với sóng radar được sử dụng để phát hiện chúng. Từ những năm 2000, các nhà khoa học đã đạt đến được một cấp độ tinh vi hoàn toàn mới: thiết kế và chế tạo chính cấu trúc tạo nên vật liệu để thu được những tính chất điện từ, cơ học hoặc âm học kỳ quái, như làm lộn tùng phèo hành xử của bức xạ điện từ – sóng vô tuyến, vi sóng, hồng ngoại, ánh sáng bình thường, … – truyền qua chúng. Loại siêu vật liệu được nghiên cứu nhiều nhất là vật liệu chiết suất âm.

A. Nguyên lý về mặt vật lý của vật liệu chiết suất âm
  1. Một số định nghĩa cơ bản

Ánh sáng là sóng điện từ, tức là các dao động của điện trường và từ trường trong không gian. Những khái niệm cơ bản nhất của một sóng có lẽ là tần số và bước sóng, hai đại lượng đặc trưng cho tính tuần hoàn trong thời gian và không gian của sóng. Ánh sáng nhìn thấy có bước sóng trong khoảng 400 nm đến 800 nm (1 tỷ nanomet bằng 1 met!) và tần số khoảng 400 THz đến 800 THz (1 THz là 1 nghìn tỷ dao động trong 1 giây). Gắn mật thiết với hai đại lượng này là pha của mỗi điểm trong không-thời gian. Sự lan truyền sóng đi kèm với sự giảm pha, theo quy ước.

Vận tốc pha là vận tốc mà một sóng lan truyền. Chiết suất của một môi trường đo độ chậm của sóng tương ứng, được tính bằng vận tốc ánh sáng trong chân không chia cho vận tốc pha. Chiết suất của vật liệu được quyết định bởi mức độ phản ứng của nó với điện và từ trường – độ điện thẩm và độ từ thẩm.

Mặt sóng là tập hợp các điểm trong không gian có cùng pha tại một thời điểm. Với một chùm tia truyền thẳng trong môi trường đồng nhất, đẳng hướng, mặt sóng đơn giản là tiết diện ngang của chùm tia đó. Khi đến mặt phân cách giữa hai môi trường, mặt sóng sẽ bị biến dạng.

Ánh sáng truyền năng lượng (bạn hẳn có thể cảm thấy sự ấm áp trên bàn tay khi ánh nắng Mặt Trời chiếu vào). Hướng truyền của sóng là hướng truyền năng lượng.

Credit: QS Study
  1. Vật chất chiết suất âm

Trong khi vật liệu thường có độ điện thẩm và độ từ thẩm dương, hai giá trị này với vật liệu chiết suất âm là âm. Dựa vào bốn phương trình Maxwell của trường điện từ trong vật chất, Veselago đã chứng minh được rằng những vật liệu như vậy có chiết suất âm: vận tốc pha âm, tức là ngược với hướng truyền năng lượng. Ánh sáng truyền đi trong môi trường chiết suất âm có pha tăng lên thay vì giảm đi, làm mặt sóng bị biến dạng theo hướng làm cho chùm sáng bị khúc xạ theo hướng kì dị như trong hình.

Ảnh minh hoạ:

Một cách hiểu khác cho sự đảo chiều thay đổi pha này là hình dung ánh sáng như là các hạt photon. Khi (năng lượng) ánh sáng truyền về trước, sóng ánh sáng/hạt photon lại truyền ngược lại về phía nguồn! (Hình vẽ cho thấy vector sóng, chỉ hướng truyền photon, bị đảo ngược).

Đi kèm với việc này là hàng loạt tính chất ngược đời khác của vật liệu chiết suất âm, được tổng hợp lại trong hình sau:

Credit: Pendry, J. B., & Smith, D. R. (2006). The Quest for the Superlens. Scientific American, 295(1), 60–67 

(Dưới đây là một lời giải thích khá hay về siêu vật liệu nói chung, sử dụng mặt sóng. Nó cũng giải thích khái niệm sóng ánh sáng và cơ chế bẻ cong ánh sáng của thấu kính thường: Metamaterials Explained Simply and Visually – Youtube Duke University)

Credit: Nicola Bowler, Negative Refractive Index Composite Metamaterials for Microwave Technology, Semantics Scholar
B. Một số ứng dụng của vật liệu chiết suất âm:
  1. Áo tàng hình

Như một lẽ đương nhiên đây sẽ là ứng dụng đầu tiên được nói đến, vì nó đã là thứ đầu tiên lôi kéo nhiều bạn đọc đến dòng này của bài đăng. Một chiếc áo choàng được làm bằng vật liệu chiết suất âm làm cong ánh sáng xung quanh nó: những người nhìn vào nó thực tế sẽ thấy ánh sáng từ các vật thể phía sau nó. Các nhà nghiên cứu đã thực sự sản xuất một loại áo như vậy với cùng nguyên lý áp dụng cho bức xạ vi sóng; tuy nhiên, chiếc áo choàng tàng hình (áp dụng cho ánh sáng nhìn thấy) vẫn còn là một dự định trong tương lai mà thôi. Tuy nhiên, có một vấn đề nảy sinh ở đây: nếu những người bên ngoài áo choàng không thể nhìn thấy bạn, bạn cũng cũng không thể nhìn thấy họ (do tính đẳng hướng của phần lớn các vật liệu thông thường). Điều này không thực sự hữu ích khi sử dụng áo khoác tàng hình phục vụ cho những mục đích gián điệp. Chúng ta cần vật liệu dị hướng: ánh sáng từ bên ngoài có thể xuyên qua áo choàng đến mắt người mặc, trong khi ánh sáng từ bên trong thì không xuyên được, nhờ đó che giấu người mặc khỏi “kẻ thù” (một ví dụ đơn giản về loại vật chất này là “one-way glass” (kính một chiều)). Bởi vậy, cho đến bây giờ, chiếc áo choàng tàng hình đặc biệt của Harry Potter vẫn chỉ là viễn tưởng.

  1. Phòng vệ trước địa chấn

Như đã thấy ở trên, ánh sáng – bản chất là sự rung động của điện trường và từ trường – có thể bị uốn cong xung quanh một vật thể. Nếu chúng ta cũng áp dụng siêu vật liệu cho cơ học, có thể các chấn động mạnh của chất rắn (trong trường hợp với cường độ cao, sóng địa chấn, là căn nguyên của những trận động đất kinh hoàng) có thể bị “dắt mũi” để chuyển hướng xung quanh một cấu trúc nào đó. Nhờ vậy, cấu trúc sẽ miễn nhiễm với động đất – chúng ta sẽ không nhận ra bất kỳ một sự xáo trộn nào. Khoa học thật ngầu đúng không? Phương pháp này cũng có thể được sử dụng để tăng cường hiệu suất của các thiết bị nhạy cảm với các nhiễu loạn bên ngoài, chẳng hạn như máy tính lượng tử hoặc LIGO.

  1. Siêu thấu kính

Thấu kính thường uốn cong ánh sáng được làm bằng vật liệu chiết suất dương thông thường. Tuy nhiên, có một giới hạn lý thuyết khiến chúng không thể trở nên hoàn hảo: giới hạn nhiễu xạ. Do tính chất sóng của nó, ánh sáng đôi khi hành xử một cách khá “kỳ quái” so với quang học hình học đơn giản được dạy ở trường. Cụ thể ở đây là một thấu kính không thể tập trung một chùm ánh sáng thành một chấm “hoàn hảo”: chấm sẽ luôn bị mờ, mức độ tùy thuộc vào đường kính của ống kính. Đây là một vấn đề nghiêm trọng trong kính viễn vọng hoặc kính hiển vi, khi độ sắc nét của hình ảnh là tối quan trọng. Tuy nhiên, các siêu thấu kính làm từ siêu vật liệu có thể giải quyết một số khó khăn, vì chúng có thể phóng đại sóng suy biến, một loại sóng bình thường quá yếu không thể thu được bằng mắt hay máy ảnh nhưng lại nắm giữ thông tin về những chi tiết của vật nhỏ hơn cả bước sóng ánh sáng.

C. Chế tạo

Thành tựu kỹ thuật đáng chú ý này đạt được bằng cách kiểm soát cấu trúc vi mô của vật liệu để tạo ra các hiệu ứng điện từ đặc biệt. Các cấu trúc này phải đạt được kích thước nhỏ hơn bước sóng mục tiêu (có thể thấy trên hình ở phần A); do đó, thách thức về kỹ thuật lại khác nhau với từng bước sóng khác nhau. Thật vậy, để điều khiển sóng vi ba (có bước sóng vài cm), các nhà khoa học chỉ cần tạo ra các cấu trúc từ các đơn vị lớn đến cỡ mm. Những đơn vị vật liệu với kích thước lớn như những hạt cát này khiến cho một số siêu vật liệu trông như các cấu trúc rỗng.

Credit: Pendry, J. B., & Smith, D. R. (2006). The Quest for the Superlens. Scientific American, 295(1), 60–67 

(Hãy nhớ, các vật thể rắn “liền khối” thông thường cũng có khoảng trống với kích thước không thể thấy được bằng mắt thường!) Trong khi đó, đối với bước sóng khả kiến, phải kiểm soát chính xác được các đơn vị với kích thước chỉ vài nanomet, nên việc đạt được nó lại càng khó khăn hơn nhiều. Tuy vậy, hãy mong chờ rằng với những tiến bộ khoa học hiện đại, thế hệ con cháu chúng ta có thể nấp sau những tấm áo khoác tàng hình và quan sát qua những siêu lăng kính, điều mà giờ đây chúng ta chỉ có thể mơ ước tới!

[FRAGMENTS OF SCIENCE #1] – METAMATERIALS

Any of you must have at least once wished that you had had an invisibility cloak. Yet, it is clear that being invisible is hard: attempts to achieve this date back at least to the first stealth aircrafts, which utilized coating and design to play around with the radar waves used to detect them. From the 2000s, scientists have achieved a whole new level of sophistication: engineering the very structure of materials to create bizarre electromagnetic or mechanics/acoustic properties such as twisting the behavior of electromagnetic radiation – radio waves, microwaves, infrared, normal light,… – propagating through them. The most researched type of metamaterial is negative refractive index material.

A. The physics of materials with negative index of refraction
  1. Some basic definitions

Light is an electromagnetic wave, which means that it is the result of vibrations of electric and magnetic fields in space. The most basic concepts of a wave are probably frequency and wavelength: two quantities that characterize the periodicity of the wave in space and time. Visible light has a wavelength in the range of 400 nm to 800 nm (1 billion nanometers equals 1 meter!) and frequencies of about 400 THz to 800 THz (1 THz is 1 trillion vibrations per second). The phase of each point in space-time closely relates to these two. By convention, wave propagation accompanies phase reduction.

The phase velocity is the rate at which a wave propagates. The refractive index of a medium measures the “slowness” of the corresponding wave, calculated by the speed of light in vacuum divided by the phase velocity. The refractive index of a material is determined by its reactivity with electricity and magnetism – permittivity and permeability, respectively.

A wavefront is a set (locus) of all points in space that have the same phase at a time. With a straight beam in a homogeneous, isotropic environment, the wavefront is simply the cross-section of that beam. Upon reaching the interface between the two media, the wavefront will be deformed.

Light transmits energy (which is why you can feel the warmth when the sun is shining on your hands). Wave propagation has the same direction as energy transmission.

Credit: QS Study
  1. Negative refractive index matter

While normal materials have positive permittivity and permeability values, these two for negative refractive index materials are negative. Based on the four Maxwell’s equations, which describe electromagnetic fields in matters, Veselago proved that such materials have negative refractive indexes: the phase velocities in those cases are negative, which means that they have opposite directions to energy transmission. The light transmitted in a negative refractive index medium has an increasing phase, instead of decreasing, causing the wavefront to be deformed in a direction that makes the beam refracted in the strange direction shown in the picture.

Illustration:

Another way to understand this reversal phase change is to visualize light as photons. When the light (energy) travels forward, the light waves/photons propagate back to the source! (The image shows the wave vector, indicating the reversed direction of photons propagation).

This is accompanied by a series of other unpredictable properties of negative refractive index materials, which are summarized in the following illustrations:

Credit: Pendry, J. B., & Smith, D. R. (2006). The Quest for the Superlens. Scientific American, 295(1), 60–67 

(Here is a nice explanation of the general concept of metamaterials using wavefront. It also covers the wave nature of light and the bending mechanism of ordinary lens: Metamaterials Explained Simply and Visually – Youtube Duke University)

Credit: Nicola Bowler, Negative Refractive Index Composite Metamaterials for Microwave Technology, Semantics Scholar
B. Some applications of negative refractive material:
  1. Invisibility cloak

This should be obvious, since it was advertised from the beginning of this post, isn’t it? A cloak made by negative refractive index materials bends light around it: people looking at it will see light from the objects behind it instead. Researchers have indeed produced one such cloak for microwave radiation, but the cloak for visible light still lays in the future. However, there exists a problem: for normal, isotropic materials, if people outside the cloak can’t see you, you can’t see them, either, due to the reciprocity principle of light. Not really useful for sneaking around and spying, then. We need anisotropic materials: light from outside can pass through the cloak to the wearer’s eyes, while light from inside cannot, hiding the wearer from the enemy’s eyes (a simple example of this is one-way glass). For now, though, Harry’s cloak is still fiction, mainly due to a problem mentioned in the end of this post.

  1. Seismic protection

We have seen above that light – essentially vibrations of electric and magnetic fields – can be bent around an object. With metamaterials applied to mechanics as well, it is possible that strong vibrations of solids up to the scale of earthquake destruction waves can be guided around a structure. Thus, the structure will be immune to earthquakes, not a single disturbance will be noticed. Cool, right? This can also be used to enhance the performance of instruments sensitive to outside disturbances, such as quantum computers or LIGO.

  1. Superlens

Ordinary lenses bend light by normal, positive refractive index material. However, there is a theoretical limitation preventing them from being perfect: the diffraction limit. Due to its wave nature, light sometimes behaves differently from the simple, geometrical optics described in schools. In this particular case, a lens cannot focus a beam of light perfectly: the dot will always be blurred, the extent of which depending on the diameter of the lens. This is a serious problem in telescopes or microscopes where sharpness of image is critical. However, superlens made of metamaterials may solve some of the problems, as they can amplify a type of wave called evanescent wave, which is usually too weak to be captured in our eyes or normal camera but encodes fine details smaller than light wavelengths.

C. Manufacturing

This remarkable engineering feat is achieved by controlling the small-scale structure of the material to produce special electric and magnetic effects. The scale of this must be smaller than the targeted range of wavelength; therefore, the technical challenge is different for different wavelengths. Indeed, to control microwave light (with wavelengths of centimeters), scientists just need to create structures from units with scales in millimeters. This makes some metamaterials don’t seem like single pieces of material at all, but just hollow structures:

Credit: Pendry, J. B., & Smith, D. R. (2006). The Quest for the Superlens. Scientific American, 295(1), 60–67 

(Fact: ordinary materials are also hollow like this, though on a much smaller scale). Meanwhile, for visible wavelength, precise control of materials having a size of just several nanometers must be achieved, making it a much more difficult feat. Techniques are still under development to confront this challenge. Let’s hope that children of the next generation can sneak into a lab using an invisibility cloak to see what DNA looks like through superlens!

[Know Your Book Ep. 1]

English

CHÌA KHÓA VŨ TRỤ CỦA GEORGE, KẺ GIẤU MẶT NGOÀI HÀNH TINH, GEORGE VÀ VỤ NỔ BIG BANG: LOẠT TRUYỆN BÁN CHẠY NHẤT VỀ KHOA HỌC THƯỜNG THỨC DÀNH CHO ĐỘC GIẢ TRẺ 

[GIỚI THIỆU CHUNG VỀ SERIES TRUYỆN]

Được chắp bút bởi nhà vật lý học nổi tiếng Stephen Hawking và con gái ông, Lucy, series truyện này sẽ cuốn bạn đọc vào một cuộc phiêu lưu tuyệt vời và thú vị, đồng thời cung cấp những lời giải thích hấp dẫn về các hiện tượng kỳ thú trong vũ trụ. Truyện xoay quanh George, một cậu bé lớn lên trong gia đình có bố mẹ là những chiến sĩ môi trường – những người mong muốn có được một cuộc sống đơn giản, tự nhiên mà không phụ thuộc nhiều vào những đồ vật gia dụng thông thường. Điều này cũng đồng nghĩa với việc họ không quá “hâm mộ” những phát minh hiện đại cũng như nền khoa học nói chung – bởi suy nghĩ con người đang làm ô nhiễm Trái Đất bằng những phát minh này. Cuộc sống nhàm chán của George tưởng chừng cứ tiếp diễn cho đến khi hai người hàng xóm mới cạnh nhà cậu – Annie và bố cô bé, chú Eric – một nhà khoa học với một siêu máy tính tối tân nhất trần đời mang tên Cosmos chuyển đến và thay đổi hoàn toàn mường tượng của cậu về thế giới. Cosmos có thể vẽ ra các ô cửa sổ cho phép mọi người quan sát vũ trụ, thậm chí “tách” một cái đưa George và các bạn du hành đến bất kỳ nơi nào trong không gian. Và thế là, George bắt đầu một cuộc phiêu lưu ly kỳ xuyên qua không gian bao la của vũ trụ để khám phá thế giới kỳ diệu của khoa học.

[CHÌA KHÓA VŨ TRỤ CỦA GEORGE]

Đây là cuốn sách mở đầu series truyện, cũng là cuốn sách đầu tiên Stephen Hawking viết cùng với con gái. Đừng bỏ lỡ câu chuyện về cuộc gặp mặt đầu tiên đầy ấn tượng giữa George và Annie, và cách cả hai trở thành bạn thân dù ban đầu không ưa nhau cho lắm. George và Annie đã hợp tác một cách tài tình để ngăn chặn các âm mưu đen tối của Graham Reeper, người muốn dùng khoa học để phục vụ những động cơ xấu xa của mình. Bên cạnh cốt truyện thú vị, cuốn sách cũng đem tới những bài giảng hấp dẫn về các nguyên tử, ngôi sao, các hành tinh và mặt trăng của chúng – tất cả những gì bạn cần biết khi bắt đầu hành trình khám phá vũ trụ bí ẩn. Truyện cũng chỉ ra sự bất đồng giữa chủ nghĩa bảo vệ môi trường và khoa học, đặt ra câu hỏi liệu chúng ta nên tập trung cải thiện cuộc sống trên Trái Đất hay thử tìm kiếm một hành tinh khác cho con người sinh sống. Và câu hỏi này đã được chính George trả lời, đề xuất rằng chúng ta nên làm cả hai: nỗ lực khám phá các hành tinh mới và những thế giới mới ngoài vũ trụ kia là một điều hết sức hấp dẫn, nhưng chúng ta cũng cần bảo vệ Trái Đất độc nhất vô nhị và tươi đẹp của mình. Ở phần sau của cuốn sách, mưu đồ đen tối của Greeper đã đẩy chú Eric và George vào nguy hiểm khôn lường, khiến chú Eric rơi vào hố đen và George phải chạy đua với thời gian để tìm cách đưa chú Eric trở lại. Tác giả cũng đã khéo léo dựng những tình huống truyện về quyển sách được đơn giản hóa của chú Eric để lại cho George để lồng ghép những kiến thức về lỗ đen một cách tự nhiên, cuốn hút và dễ nhớ, nhất là với những độc giả nhỏ tuổi. Phần này cũng đề cập đến học thuyết của Tiến sĩ Hawking về lỗ đen: Bức xạ Hawking. Câu chuyện kết thúc với bài phát biểu đầy truyền cảm của George. Bài thuyết trình này thậm chí đã thay đổi hoàn toàn quan nhiệm của bố cậu bé về khoa học và cũng chính là thông điệp gửi đến mỗi người: chúng ta không nên tránh xa hoặc nghĩ nó thật nguy hiểm, thay vào đó chúng ta nên say mê, hiểu biết nó và vận dụng nó như một công cụ để bảo vệ và tìm hiểu vũ trụ tươi đẹp này.

[KẺ GIẤU MẶT NGOÀI HÀNH TINH]

Sau khi phải cố gắng quá sức để thực hiện sứ mệnh giải nguy cho chú Eric khỏi lỗ đen ở phần 1, Cosmos bị nổ tung và ngừng hoạt động kể từ hôm đó. Vì vậy, George không còn cơ hội để lại bước qua cánh cửa du hành quanh hệ Mặt Trời hay xa hơn nữa. Mọi thứ dường như còn trở nên tệ hơn với cậu khi Annie và gia đình cô bé chuyển đến Mỹ, nơi chú Eric sẽ nhận công việc ở Cơ Quan Vũ Trụ Toàn Cầu – nhằm tìm kiếm dấu hiệu sự sống trong hệ Mặt Trời. George cảm thấy rất buồn lòng và trống trải, và để an ủi cậu bé, chú Eric tặng George 1 món quà chia tay hết sức đặc biệt – cuốn sách “Hướng dẫn tìm hiểu vũ trụ”, giải đáp mọi thắc mắc của cậu về du hành vũ trụ. May mắn thay, George không phải xa Annie và chú Eric quá lâu, khi Annie email nhờ sự giúp đỡ của cậu vì cô bé tin rằng mình đã nhận được tín hiệu kỳ lạ giống như thông điệp liên lạc của người ngoài hành tinh. Trong khi đó, Homer – chú robot mà bố Annie phóng lên Sao Hỏa đột nhiên có những biểu hiện bất thường – liệu 2 sự kiện ấy có liên quan đến nhau? George lập tức bay qua biển, vượt qua sông đến bên Annie để cùng với cô bé và Emmett – một cậu bé thiên tài máy tính với tính cách có phần “mít ướt” và khó chịu giải mật mã vũ trụ và tham gia vào chuyến săn tìm kho báu kỳ thú xuyên dải Ngân Hà. 

Làm thế nào để tìm được một hành tinh trong không gian? Có thể nào có sự sống ngoài vũ trụ bao la kia? Nếu gặp người ngoài hành tinh, bạn sẽ nói gì? Tất cả những lời giải đáp cho những bí ẩn này sẽ được lồng ghép khéo léo, với những miêu tả chi tiết về cách thức con người tìm hiểu vũ trụ này (với sự trợ giúp của vệ tinh nhân tạo và robot)  khiến những độc giả nhỏ tuổi không thể không say mê với du hành vũ trụ. Hành trình tìm kiếm một hành tinh có sự sống cũng sẽ càng hấp dẫn hơn với những bài luận miêu tả Mặt Trăng, Sao Hỏa, Sao Kim, và không thể không kể đến mặt trăng (vệ tinh tự nhiên) của Sao Mộc – Europa, và của sao Thổ – Titan… Đặc biệt hơn, cuốn sách cho thiếu nhi này cũng đề cập cả Thuyết Tương đối hẹp và Thuyết tương đối rộng của Einstein, định luật Hubble về vũ trụ giãn nở và cả định luật quan trọng về 4 loại lực (lực điện từ, lực tương tác yếu, lực tương tác mạnh, lực hấp dẫn), … – một phiên bản “Lược sử thời gian” được viết dành riêng cho những nhà khoa học trẻ tuổi. Tiếp nối Chìa khóa vũ trụ của George, câu chuyện phiêu lưu kịch tính của Lucy và Stephen Hawking hứa hẹn sẽ ngập tràn kiến thức khoa học bổ ích của vũ trụ – một bài học dễ hiểu và giàu tưởng tượng về vật lý trong không gian và thời gian và đương nhiên không thể thiếu niềm vui bất tận, khiến chúng ta hiếu kỳ, sửng sốt.

[GEORGE VÀ VỤ NỔ BIG BANG]

Trở về sau cuộc phiêu lưu ly kỳ ở Mỹ, George phải đối mặt với một số vấn đề khiến cậu cực kỳ, cực kỳ bực bội. Sự ra đời của 2 em bé sinh đôi – những thành viên mới trong gia đình khiến bố mẹ không còn chú ý đến cậu và ngôi nhà lúc nào cũng ầm ĩ làm cho George tưởng óc mình sắp nổ tung đến nơi. Tệ hại hơn cả, cô bạn thân nhất của cậu, Annie, giờ đang chơi với anh bạn mới – Vincent và dường như quên luôn cả George. Vì vậy, George quyết định bắt tay vào việc giúp chú Eric lên kế hoạch thực hiện một thí nghiệm lớn, đầy thú vị ở Thụy Sĩ nhằm tìm cách khám phá khoảnh khắc đầu tiên xảy ra trong vũ trụ. Nhưng mọi chuyện không hề dễ dàng. George vô tình phát hiện ra âm mưu đen tối của một tổ chức bí ẩn. Trong cuộc phiêu lưu đầy gay cấn này, George phải đương đầu với kế hoạch phá hủy thí nghiệm và đe dọa tính mạng những nhà khoa học hàng đầu thế giới, đồng thời cố gắng cứu vãn tình bạn với Annie.

Vũ trụ được hình thành như thế nào? Lỗ giun, năng lượng âm là gì và liệu chúng ta có khả năng du hành thời gian không? Toán học – môn học tưởng như khô khan lại có lợi không ngờ trong việc tìm hiểu vũ trụ như thế nào? Vật Chất Tối và Năng Lượng Tối – cấu tạo nên vũ trụ là gì? Tất cả những lời giải đáp cho những bí ẩn này sẽ được lồng ghép qua những bài luận tuyệt vời, dễ hiểu được viết bởi những những nhà khoa học lỗi lạc. Cuốn sách cũng mang đến cho chúng ta những thông tin hấp dẫn, bổ ích về hệ mặt trời, Thuyết Lượng tử và thậm chí cả Thuyết Vạn Vật – thử thách cho các nhà khoa học. Chú Eric làm việc ở dự án LHC ở Thụy Sĩ cũng là cơ hội để George và Annie (và các bạn đọc) khám phá thêm thật nhiều kiến thức về sự va chạm của các hạt, và cả một cái nhìn tổng quan về cách mà Máy gia tốc hạt lớn (LHC) hoạt động. Nguyên lý bất định và con mèo của Schrödinger, điểm kỳ dị, thuyết M – 11 chiều – những bí ẩn tưởng chừng khô khan và khó hiểu với những độc giả nhỏ tuổi cũng được các tác giả “phù phép” thành thật thú vị, dễ hiểu, khiến khoa học thành 1 môn học chứa đầy niềm vui bất tận.

[ĐIỂM ĐẶC BIỆT CỦA SERIES]

Với hình thức kể chuyện ly kỳ, hấp dẫn, series đầy thú vị này hướng tới việc mô tả các khía cạnh khác nhau của vũ trụ và vật lý theo cách mà những độc giả trẻ tuổi và những người mới bắt đầu hành trình khám phá khoa học có thể dễ dàng tiếp cận. Bạn sẽ đắm chìm trong thế giới kỳ diệu của khoa học thông qua cốt truyện đặc sắc và cách kể chuyện đầy lôi cuốn, và phát hiện ra khoa học không hề rắc rối và buồn tẻ như nhiều người vẫn thường lầm tưởng. Bên cạnh việc tiếp cận với vô vàn thông tin bổ ích, bạn sẽ có những khoảng thời gian thư giãn với tình bạn dễ thương của George và Annie và tính cách đãng trí của một nhà khoa học của chú Eric. Hơn cả thế, cuốn sách cũng được lồng ghép những bức tranh chụp vũ trụ (được in màu) và “fact files” của những hiện tượng khoa học kỳ thú, hứa hẹn sẽ mở ra cho chúng ta một cái nhìn đầy sinh động về vũ trụ.

[ĐỐI TƯỢNG ĐỌC]

Series được viết hướng tới các bạn lứa tuổi “teen”, và theo cảm nhận của chúng mình, series truyện này phù hợp với những bạn học sinh bắt đầu hành trình khám phá vũ trụ, cũng như bất kỳ ai yêu thích vật lý thiên văn nói riêng và khoa học nói chung. Tuy vậy, series truyện này cũng có một số thông tin khoa học giả tưởng, vì vậy nó có thể chưa phải lựa chọn phù hợp cho người lớn hoặc các chuyên gia về lĩnh vực này.

[LỜI KẾT] 

Để tổng kết, chúng mình nghĩ rằng series này xứng đáng được đánh giá là “must-read”, và nếu bạn đang tìm kiếm một quyển sách khoa học cho người mới bắt đầu, series này chính là một lựa chọn phù hợp. Không chỉ mang đến một lượng lớn thông tin bổ ích, series này cũng khiến khoa học trở nên thú vị và dễ tiếp cận hơn rất nhiều. Vì vậy, hãy đọc thử và cho chúng mình biết những cảm nhận của bạn trong phần bình luận nhé!

GEORGE THE SERIES: GEORGE’S SECRET KEY TO THE UNIVERSE, GEORGE’S COSMIC TREASURE HUNT, GEORGE AND THE BIG BANG – BESTSELLING SERIES ON POPULAR SCIENCE FOR YOUNG READERS

[OVERVIEW OF THE SERIES]

In their bestselling series on popular science for young readers, the well-known physicist Stephen Hawking and his daughter, Lucy, lead us to a fantastic and funny adventure that explains fascinating information about our universe. It is a series of stories about George, who is originally raised in a family where his parents, who are environmentalists, believed in a purer, simpler life. This also means that they like neither modern innovations nor science – which they believe to take the blame for destroying our beautiful Earth. But George’s boring life all changes one day when his next-door neighbors appear – Annie and her dad, Eric – a scientist with a super-computer named Cosmos. Cosmos can draw windows allowing people to look into outer space, as well as doors that act as trans-universe portals. With their help, George is taken through the vastness of space and begins a thrilling adventure to explore the magic world of science.

[GEORGE’S SECRET KEY TO THE UNIVERSE]

This is the first book of the series, where the authors first introduce George and Annie to readers. You shouldn’t miss the impressive first meeting between George and Annie, and how their relationship went from not really liking each other to being besties. They also collaborate smartly to stop the evil plans of Graham Reeper, who wants to use science for his inappropriate motives. What’s more, along with the interesting plot, the book includes fascinating lectures on atoms, stars, planets and their moon – all you need to know as a beginner to explore our mysterious universe. The story also tackles the tension between environmentalism and science and raises the question of whether we should take action to protect our Earth or find another habitable planet – a question then answered by George, who strongly believes in both the uniqueness of Earth and the diversity of our universe. The last part of the book is dedicated to black holes along with Dr. Hawking’s own ideas of black holes evaporation. The story ends with an inspirational speech delivered by George, which amazingly changes his father’s point of view on science and is also a message sent to all of us: we shouldn’t stay away or be scared of it; instead, we should learn to use it as a tool to protect our universe.

[GEORGE’S COSMIC TREASURE HUNT]

After trying too hard to carry out the mission to rescue Eric from the black hole in Book 1, Cosmos exploded and stopped working since that day. As a result, George no longer has the opportunity to walk through the door to travel around the solar system or beyond. Everything seemed to get worse for him when Annie and her family moved to the United States, where Eric would take a job at the Global Space Agency: searching for signs of life in the solar system. George felt very sad and heartbroken, and to comfort him, Eric gave George a very special farewell gift – the book “The User’s Guide to the Universe,” which answers all his questions about Astronaut. Fortunately, George was not apart from Annie and Uncle Eric for too long, as Annie emailed for his help because she believed that she had received a strange signal like an alien communication message. Meanwhile, Homer, the robot that Annie’s father launched on Mars, suddenly showed unusual behavior – did the two events relate to each other? George immediately flew across the sea to join Annie and Emmett, a computer genius boy with a slightly “crybaby” and annoying character, in decoding the universe code and participating in a cosmic treasure hunt across the Milky Way.

How to find a planet in space? Is it possible to live in that vast universe? If you met aliens, what would you say? All of the answers to these mysteries will be cleverly integrated, with detailed descriptions of how humans learned the universe (with the help of artificial satellites and robots) so that the young readers can’t help but fall in love with space travel. The journey to search for a living planet will also be more attractive with essays describing the Moon, Mars, Venus, and it is impossible not to mention the moon of Jupiter – Europa, or that of Saturn – Titan… More specifically, this children’s book also mentions both Einstein’s General Theory of Relativity and Special Theory of Relativity, Hubble’s law of the expanding universe and the important laws of the four forces (electromagnetic force, weak force, strong force, gravitational force), …: to put it plainly, a version of “A brief history of time” was written specifically for young scientists. Following “George’s Secret Key to the Universe”, Lucy and Stephen Hawking’s second dramatic adventure is an easy-to-understand, imaginative lesson, and yet no less informative about the universe and physics in space and time. It will bring not only endless joy but also curiosity and astonishment.

[GEORGE AND THE BIG BANG]

After the thrilling adventure described in the second book, the third one in the series begins with George facing some problems. The mere existence of his twin sisters not only diverted the attention of his parents from him but also filled the house with non-stop crying noises all day long. And worst of all, his best friend, Annie, has made a new friend – Vincent whom she seems to like more than George. So George jumps at the chance to help Eric with his plans to run a big experiment in Switzerland that seeks to explore the earliest moment of the universe. But there is a conspiracy afoot, and a group of evildoers is planning to sabotage the experiment. George has to try his best to repair his relationship with Annie and piece together everything with the help of Reeper before the group of evildoers destroys the experiment and also threatens the life of world top physicians.

How was the universe formed? What are wormholes, negative energy and are we capable of time travel? How can Mathematics, a seemingly theoretical subject, can bring unexpected benefits in understanding the universe? What are dark matter and dark energy, which constitute the universe? All the answers to these mysteries will be integrated into wonderful, easy-to-understand essays written by eminent scientists. The book also provides us fascinating and useful information about the solar system, Quantum Theory, and even The Theory of Everything – a big challenge to scientists. Eric working on the LHC project in Switzerland also allows George and Annie (plus, readers) to discover more knowledge about particle collisions and have an overview of how Large Hadron Collider (LHC) works. The uncertainty principle and Schrödinger’s cat, the singularity, and the 11-dimensional M-theory – the seemingly incomprehensible mysteries for young readers – also become enjoyable and easy to understand thanks to the authors’ amazing writing, which makes science an entertaining yet informative subject.

[WHAT IS SPECIAL ABOUT THIS SERIES?]
Written like a story, this series aims to describe various aspects of the universe and physics in a manner that is accessible to young readers and science beginners. You will certainly dive into the magic world of science through an interesting plot and charming storytelling, just to discover in the end that science is not that perplexing and dull as many people may think. Along with gaining new information, you will be entertained with the cute friendship of George and Annie and the scientist-like characteristic of Eric. What’s more, at frequent intervals throughout the book, there are fascinating pictures (printed with colors) and “fact files” of the different universal objects, which certainly provide us a more lively look at our universe.

[WHO SHOULD READ THIS?]
This series aims to target teenagers, and in our point of view, this series is suitable to students who begin to explore our universe as well as aspiring astrophysicists and science lovers in general. However, this series also has some fictional scientific information, so it might not be suitable for professionals or adults.

[SUMMARY]
To summarize, we think this series is a must-read, and if you have a chance, you should definitely consider it. Not only did it provide us with a generous amount of information, but it also made science much more interesting and approachable. So, give this a try and let us know what you think in the comment section!