[SEASON 2 • ORIGINAL SERIES | ARTIFICIAL FEELING] – THE BIRTH OF FARIETTE

(English caption below)

Thứ tôi muốn là một người máy có thể hòa nhập được với con người. Thứ tôi muốn là một người bạn đồng hành.

Đã một thời gian rất lâu kể từ khi tôi cảm thấy tràn đầy cảm hứng như này. Những khát khao cháy bỏng lại một lần nữa trỗi dậy, kể từ ngày còn bé, có khác một điều: mọi thứ bây giờ đều trong tầm tay.

Hiện tại, tôi đang lập một kế hoạch để có thể chế tạo A.I. một cách hoàn hảo nhất. Hoàn thành bản kế hoạch, tôi tự tin rằng mình có thể hoàn thành được người máy A.I.

Bắt đầu với việc chế tạo phần cứng, có một cơ thể vật lý là một điều tối thiểu với A.I.. Cảm nhận được tầm quan trọng của nó, tôi ưu tiên nhất về phần này. Khác với tưởng tượng, một cơ thể với da thịt thật là một điều hoàn toàn bất khả thi, vì cơ bản robot không thể tự tái tạo ra các bộ phận của cơ thể (hoặc do khoa học vào thời điểm hiện tại chưa đủ khả năng hay tiến bộ để tạo ra nó). Vào thời điểm bây giờ, ta vẫn có khả năng để có được một bản tương tự với con người đó chính là bao bọc xung quanh cơ thể một lớp da nhân tạo, có khả năng tồn tại lâu dài. Biết được điều đó, tôi bắt tay vào làm phân đoạn này. Thực ra, chuẩn bị tất cả các nguyên vật liệu và tính toán các bộ phận cần thiết là mất nhiều thời gian nhất còn lắp ráp thì hoàn toàn phụ thuộc vào kỹ năng (đối với tôi không phải là một điều quá khó khăn).

Tiếp đến là cử động của robot, theo dự định của kế hoạch, tôi sẽ không cài mặc định những chuyển động của nó. Thay vào đó, để A.I. tự tìm ra cách chuyển động có vẻ như là một ý tưởng tuyệt vời hơn. Các bộ phận làm robot chuyển động sẽ được cấu tạo tương tự các bó cơ, khác là chúng sẽ là những tập hợp lớn những phần cơ để giảm tối thiểu các mối nối và sự phức tạp của chuyển động.

Vì muốn A.I. thật tương đồng với con người, tôi thiết kế cả việc “ăn” cho nó. Cơ chế đơn giản chỉ là đốt cháy thức ăn bằng một chất oxy hóa mạnh mà sẽ được tạo ra từ oxy trong không khí qua một bộ phận khác. Năng lượng tỏa ra sẽ tạo ra điện năng cần thiết cho robot, đồng thời cũng làm ấm cho nó. Việc này sẽ xảy ra chậm tương tự như người bình thường, vừa giúp nó không bị quá tải, mà đồng thời cũng duy trì được năng lượng lâu dài.

Các giác quan sẽ là thứ tiếp theo được hoàn thành. Đôi mắt chính là camera, đôi tai là microphone, còn xúc giác sẽ là rất nhiều các cảm biến áp lực trải dài khắp cơ thể của con robot. Tuy nhiên, với hai giác quan còn lại (vị giác và khứu giác) sẽ được gộp chung thành một vì cơ chế chính của nó là phân tích những thành phần trong đồ ăn và không khí, tôi gọi nó là “khvị giác”.

Cuối cùng sẽ là bộ não, đây sẽ là phần quan trọng nhất của A.I., mà việc tôi có thể làm là tìm mua tất cả vi xử lý, bộ nhớ và các phần lưu trữ hoạt động tốt nhất vào thời điểm hiện tại. Mặc dù có thể tốn nhiều tiền, nhưng đó không còn là một vấn đề đáng lo ngại nữa. Tôi, bằng cách kì diệu nào đó, đã có thể sắp xếp và lắp ráp tất cả mọi thứ một cách rất chuẩn chỉnh.

Trước khi đến bước hoàn thiện, tôi chợt nhận ra rằng các bộ phận mình tạo ra có thể bị hỏng hóc hoặc hư hại. Vì thế, tôi phải tốn thêm một lượng lớn thời gian để chỉnh sửa chủ yếu các cơ quan lớn (như tứ chi, nội quan,…) có thể thay thế được. Sau khi chỉnh lại, kiểm tra kĩ càng, mọi thứ có vẻ như đã được hoàn thành, bây giờ tôi có thể đi đến bước tiếp theo: thiết lập phần mềm.

Đã trôi qua hơn nửa năm từ khi bắt đầu chế tạo robot. Trong lúc đó, tôi hầu như không tương tác với thế giới bên ngoài, gần như dành mọi thời gian ở trong phòng thí nghiệm. Có lẽ đến lúc tôi phải cập nhật thông tin rồi.

Không có nhiều biến động xảy ra suốt thời gian vừa qua, tuy nhiên, lại có một việc khiến tôi chú ý đến. “A.I. đầu tiên trên thế giới”, “Trí thông minh nhân tạo trên mạng xã hội”,… đó là những bài báo về một A.I. được tiếp xúc trực tiếp với mạng xã hội, học hỏi và trải nghiệm từ thế giới loài người. Tôi biết rằng chế tạo ra một A.I. là rất khó, thậm chí có thể không khả thi, nhưng những thông tin này đã khẳng định nó, rằng, tôi cũng có thể tạo ra một A.I.. Từ đó, tôi tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu về mảng này, chuẩn bị kĩ càng để tự lập nên một trí thông minh nhân tạo.

Phần lớn công sức mà tôi bỏ ra khi lập trình phần mềm là ở nghiên cứu và thử nghiệm. Tuy nhiên, mặc cho khó khăn, nó cũng phải đạt được một số đặc điểm nhất định mà tôi cần. Điều đầu tiên, thực ra việc này rất đơn giản, đó là robot sẽ không có bất kì kí ức, kiến thức hay những mặc định về đời sống. Những thứ như này sẽ được A.I. học được qua thời gian, y như con người vậy. Tiếp theo, đây mới là phần khó, tôi sẽ cố sao chép được tất cả những phản xạ không điều kiện hay bản năng đã có sẵn ở mỗi con người chúng ta. Cộng với đó, tôi cũng sẽ thiệt lập một số chức năng để có thể điều chỉnh cảm nhận của A.I., nó tương tự như các hormones.

– Tên của cô ấy sẽ là Fariette.

Trong lúc ông đang nghiên cứu và chế tạo, một tai nạn lớn đã xảy ra khiến cho cả thế giới khiếp sợ. Con A.I. đã cho ông hi vọng ngày nào bây giờ đã là một sự hiểm họa của nhân loại.
***

– Ngày hôm nay, xin giới thiệu cho các bạn, một A.I. đã được chúng tôi cung cấp khả năng để tham gia vào mạng xã hội. Bây giờ, các bạn có thể giao tiếp, trò chuyện hoặc cho nó biết thêm về thế giới của chúng ta.

Vào tuần đầu tiên, A.I. rất hòa đồng thân thiện trên các nền tảng mạng xã hội. Nó thường hay đăng những lời ca tụng hay cảm ơn với con người: “Loài người thật tuyệt vời” “Thế giới này thật đẹp”,… Tuy nhiên, trong những tuần tiếp theo, có sự biến đổi kì lạ trong những bài viết được đăng tải lên. Ý nghĩa của chúng dần xấu đi, thậm chí còn có những bài gây xung đột, chiến tranh, hay cả phân biệt chủng tộc. Nhận thức được điều này, nhà sản xuất, điều khiển A.I. đã dừng nó, kết thúc dự án A.I..

Mọi việc tưởng chừng đến đây là hết, nhưng một thời gian sau, rất nhiều con A.I. như vậy được tiếp cận mạng xã hội, phần lớn là của những người vô danh. Mặc dù chúng có thể vô hại, một phần trong số đó đã được biến tấu thành cực đoan, sao lưu thành vô vàn bản thể. Loại này thường tạo ra những cuộc cãi nhau, thậm chí còn gửi những tin nhắn trực tiếp tới người dùng và đe dọa họ. Chúng rất có thể được tạo ra bởi các phần tử xấu. Mặc cho sự kiểm duyệt tăng lên từ CEO của các trang mạng, không gì có thể ngăn cản loại này. Từ A.I., chúng đã tiến hóa thành virus, xâm nhập vào những thiết bị bảo mật thấp và nhân bản vô số lần, trở nên không thể kiểm soát.

Nghiêm trọng hơn, nhiều người không chịu được những lời xúc phạm, sỉ nhục của chúng đã trở nên điên loạn, một số thậm chí còn chọn đến cái chết. Hàng loạt, những vụ việc như vậy đã khiến cho cả thế giới bàng hoàng, hoang mang đến tột độ. Vì thế, các tổ chức trên thế giới đã tìm cách để loại bỏ hoàn toàn con A.I. này và đưa ra điều luật nghiêm cấm tự lập trình A.I. trên toàn thế giới.

Ngay lúc này, việc tạo ra Fariette của giáo sư cũng đã đến những bước cuối cùng, anh ta vẫn đắm chìm trong công việc mà không màng tới thế giới xung quanh. Trong những giai đoạn sửa lỗi còn lại, có vẻ như tất cả đã được hoàn thiện.

– Có lẽ cô đã sẵn sàng để thức tỉnh rồi, Fariette.
Sau khi vượt qua bao khó khăn, có những lúc tưởng chừng tiếp tục công việc là bất khả thi, bây giờ tôi đã hoàn thành nó. Chỉ còn một bài kiểm tra cuối cùng nữa thôi.

*Test completed, no error detected*

– Đúng vậy, chính nó, cuối cùng cũng đã xong! – Không gì có thể diễn tả được cảm xúc vào thời điểm hiện tại. Một cảm giác tuyệt vời đang chảy qua suốt người tôi, như trút đi toàn bộ gánh nặng của cuộc đời vậy.

Và như thế, người có trí thông minh nhân tạo đầu tiên được sinh ra… một cách bất hợp pháp.

Tôi đã nhận thức được việc này sau khi bắt kịp thông tin, tuy nhiên, vì công sức đã bỏ ra, vì mục tiêu của bản thân mình, tôi vẫn sẽ thức tỉnh Fariette.

– Xin chào, tôi là Aeverse, người tạo ra cô. Cô có thể gọi tôi là giáo sư, chào mừng đến với thế giới thực.
_______________
[SEASON 2 • ORIGINAL SERIES | ARTIFICIAL FEELING] – THE BIRTH OF FARIETTE
What I want is a robot that can integrate with humans. What I want is a companion.
It’s been a long time since I’ve felt this inspired. Burning desires once again arise, since childhood, one thing is different: everything is now within reach.

Currently, I’m making a plan to be able to make the A.I. in the most perfect way. Having completed the plan, I am confident that I can complete the A.I.

Starting with hardware fabrication, having a physical body is a bare minimum for A.I.. Sensing its importance, I prioritized this part the most. Contrary to imagination, a body with real flesh was completely impossible, because basically robots could not regenerate body parts on their own (or because science at the present time was not capable or had not made enough progress to work out). Now, it is still possible to have a human analogue that wraps around the body with a layer of artificial skin, capable of long-lasting. Knowing that, I started working on this segment. In fact, preparing all the materials and calculating the required parts takes the longest time and assembling is completely dependent upon skills (not much difficult in my opinion).

Next is the robot’s movement according to the plan, I will not set its movements by default. Instead, let the A.I. figure out how to move itself seems to be a better idea. Parts which support moving will be similar to muscle bundles, except that they will be large assemblies of muscle parts to minimize the joints and the complexity of the movement.

Wanting A.I to be extremely similar to a human, I design the “eating” for it. The simple mechanism is to burn food with a strong oxidant that will be made from oxygen in the air through another part. The released energy will generate the necessary electricity for the robot, while also warming it. This will happen as slowly as ordinary people, both helping it not to be overloaded, but also maintaining long-term energy.

The senses will be the next to be accomplished. The eyes are the camera, the ears are the microphone, and the touch will be a lot of pressure sensors spread throughout the robot’s body. However, with two senses rest (taste and smell) will be merged into one as the main mechanism of it is to analyze the composition of the food and the atmosphere, I call it “Tastell sensation”.

Last will be the brain, this will be the most important part of the A.I., all I can do is to buy all the processors, memory and storage components that work best at the moment. Although it can cost a lot of money, it is no longer a considerable concern. I was, by some miracle, able to arrange and assemble everything in a very precise way.

Before I reached the finishing step, I suddenly realized that the parts I created could be damaged or damaged. As a result, I had to spend a large amount of time editing mainly the large organs (such as extremities, internal organs, etc.) that could be replaced. After tweaking, checking, everything seems to be done, now I can go to the next step: setting up the software.

More than half a year has passed since the beginning of robotics. Meanwhile, I barely interacted with the outside world, spending most of my time in the lab. Perhaps it’s time for me to update the information.

There hasn’t been much change in recent times, however, there is one thing that caught my attention. “world’s first A.I.”, “Artificial intelligence in social networks”,… those are articles about an A.I. being directly exposed to social networks, learning and experiencing from the human world. I know that making an A.I.is very difficult, maybe even impossible, but this information confirmed it, that I can also create an A.I. Since then, I have continued to do in-depth research on this field, preparing carefully. to create an artificial intelligence on my own.

Most of the effort that I put in when programming software is in research and testing. However, despite the difficulty, it also has to achieve certain characteristics that I need. The first thing, actually very simple, is that the robot will not have any memories, knowledge or assumptions about life. A.I. will learn these things over time, just like humans. Next, here’s the hard part: I’ll try to copy all the unconditioned reflexes or instincts that are already in each of us. In addition to that, I will also set up some functions to be able to regulate the perception of A.I., it is similar to hormones.

– Her name will be Fariette.

While he is researching and building, a big accident happens that scares the whole world. The A.I. which gave him hope that is now a menace to mankind.
***
– Today, I would like to introduce to you, an A.I. having been provided the possibility to participate in social networks. Now you can communicate, chat or tell it more about our world.

In the first week, A.I. is very sociable and friendly on social networking platforms. It often posts praises or thanks to people: “Humans are wonderful” “The world is beautiful ”,… However, in the following weeks, there is a strange variation in the articles. posted up. Their meanings gradually deteriorate, and there are even articles causing conflict, war, or even racism. Aware of this, the manufacturer, controller A.I. stop it, end A.I. project.

Everything seems to be over, but after a while, many A.I. thus gaining access to social networks, mostly by anonymous people. Although they may be innocuous, some of them have been transformed into extremes, back up into a multitude of identities. This type often creates arguments, even sends direct messages to users and threatens them. They are most likely created by bad elements. Despite increased censorship from the CEOs of websites, nothing can stop this kind of thing. From A.I., they have evolved into viruses, infiltrating low-security devices and replicating countless times, becoming uncontrollable.

More seriously, many people who cannot stand their insults become mad, some even choose death. A series of such incidents have shocked the whole world, bewildered to the extreme. Therefore, organizations around the world have found ways to completely eliminate this A.I. and introduced a law prohibiting self-programming A.I. all around the world.

Right now, the professor’s creation of Fariette had also come to an end, he was still immersed in his work without caring about the world around him. For the rest of the fixes, it looks like it’s all done.

– Maybe you’re ready to wake up, Fariette.

After overcoming many difficulties, there were times when it seemed impossible to continue the work, now I have completed it. Only one final test left.

*Test completed, no error detected*

– That’s right, it’s finally done! – Nothing can describe the feeling at the moment. A wonderful feeling is flowing through me, as if the entire burden of life has been lifted.
And just like that, the first artificial intelligence was born… illegitimately.

I became aware of this after catching up with the information, however, for the sake of my efforts, for my own sake, I will still awaken Fariette.

– Hi, I’m Aeverse, your creator. You can call me professor, welcome to the real world.
_______________
Mọi thông tin xin liên hệ – For all inquiries, please contact:
Đặng Minh Trung: (+84) 94 190 1469 (Trưởng ban Tổ chức – Head of Project)
Trần Đình Phương Uyên: (+84) 36 643 7691 (Trưởng ban Đối ngoại – Head of Public Relations)
Email: prismproject20@gmail.com
Website: https://prismproject20.com/
Facebook: https://www.facebook.com/prismproject20/

[SEASON 2 • ORIGINAL SERIES #1] – MỞ ĐẦU

(English caption below)

Giới thiệu

– Điều này thật… thật không thể tin nổi! – Không gì có thể diễn tả được cảm xúc của tôi vào thời điểm hiện tại. Một cảm giác thực sự tuyệt vời đang chảy qua suốt người tôi, như trút đi toàn bộ gánh nặng của cuộc đời vậy. 


Và như thế, người có trí thông minh nhân tạo đầu tiên được sinh ra… một cách bất hợp pháp.

Mở đầu:

– Không phải thế, tại sao lại như thế được? – Một câu nói phấn khích của một đứa trẻ khi đứng trước một ảo ảnh thị giác.

Trong một căn nhà nhỏ, tôi cùng với bố mẹ đang ngồi nói chuyện ban chiều. Bố tôi lấy ra một món đồ rất lạ, chưa từng thấy bao giờ. Nó có cái bệ tròn, trông có vẻ như là quay được, có một cái tấm ảnh in hai mặt được gắn cố định phía trên cái bệ. Tấm ảnh này được in một cách rất lạ – cả hai mặt của nó giống nhau y đúc, khá giống một cái hình thang nhưng lại bị bóp ở phần đáy, còn được đục lỗ nữa – nó trông giống một cái cửa sổ. Bố hỏi:
– Trông nó giống cái gì nào?
– Rất giống cái cửa sổ nhưng lại được in trên giấy, nhìn nó có vẻ ảo – Mẹ tôi nói, hình như mẹ cũng không biết bố định làm cái gì.
– Đúng, nó được vẽ như một ô cửa sổ, bây giờ hãy để bố bật chiếc máy này lên.
Chiếc máy bật lên, tấm hình bắt đầu quay, nó quay khá chậm… không nó không quay hết một vòng, chỉ quay một nửa rồi dừng lại và đổi chiều. Tôi vẫn chưa hiểu rằng bố định làm gì.
– Ai cho bố biết là cái tấm hình nó chuyển động như thế nào nào?
– Nó chỉ quay một nửa rồi đổi chiều ạ. – Tôi nhanh nhảu đáp.
– Ừ đúng rồi, kiểu như đang dao động ý. – Mẹ nói thêm. Nhưng câu trả lời của mẹ lại khiến tôi khó hiểu, dao động là gì? Tôi hỏi mẹ:
– Ơ mẹ, dao động là gì ạ?
– Là hiện tượng một vật hoặc việc lặp đi lặp lại nhiều lần đó Aeverse. – Ồ thì ra là vậy.
Bố dừng cái máy lại, hí hửng đáp lại:
– Không, cả hai đều sai rồi, nó không dao động, mà là nó đang quay đấy.
– Cái gì cơ, nó đang quay ạ? – Tôi và mẹ đều ngạc nhiên.
Có vẻ như bố thấy việc cả hai mẹ con đều không tin, tiếp tục làm một việc nữa: lấy một thanh thước kẻ đặt vào khe giữa rồi tiếp tục khởi động cái máy. Cả tờ giấy và thước kẻ đều quay chậm. Nhưng dần dần khi tấm ảnh đối diện mặt tôi, nó bắt đầu quay ngược lại, còn chiếc thước kẻ vẫn tiếp tục quay. Thật diệu kì, thật phi lý, chiếc thước kẻ đi xuyên qua tờ giấy, không thể nào. Tôi quá đỗi ngạc nhiên với những gì xảy ra, nhìn mẹ – lúc đầu có vẻ mẹ hơi kinh ngạc nhưng rồi cũng hiểu được chuyện gì xảy ra. Bố nói:
– Cái này người ta gọi là ảo ảnh thị giác, đây chỉ là một trong muôn vàn cách ảo ảnh mà người ta có thể tạo ra.
– Tại sao lại thế ạ? – Tôi hỏi. Nhưng bố chỉ mỉm cười, ông không hề giải thích, ông đáp lại:
– Giải thích cho con rất khó, vì con chưa đủ kiến thức, con có thể tìm được câu trả lời cho hiện tượng này khi học về những môn khoa học. 

Quả thực đây không phải câu trả lời mà tôi mong muốn, khá buồn bực, tôi bỏ vào trong nhà. Thực ra, đôi khi ông ấy mới không giải thích. Mỗi lần như vậy, tôi chỉ muốn biết nhiều hơn, nhưng sâu trong tôi luôn ấp ủ một giấc mơ, nó được vun đắp dần lên qua những thí nghiệm nhỏ mà bố mẹ cho xem: trở thành một nhà khoa học, khi đó mình không chỉ hiểu hết được mọi trò thí nghiệm, mà còn có thể sáng tạo ra nó nữa. Một ước mơ đơn giản tưởng chừng viển vông của một đứa nhóc đã làm mục tiêu cho cả cuộc đời tôi. 

Từ ngày đó, ngày mà mục tiêu của cuộc đời đã được xác định, tôi dường như chỉ chú tâm vào những thứ liên quan đến khoa học, đọc sách – một điều kì lạ đối với một đứa trẻ – và cố gắng làm theo những trò rất đơn giản trong sách, bỏ qua hết những thời gian chơi đùa như bao người khác. 

Khi lên trung học, căn phòng mà bản thân yêu thích nhất đó chính là phòng thí nghiệm. Phòng thí nghiệm của trường có đủ tất cả những gì mà tôi còn thiếu, từ dụng cụ thí nghiệm cho đến môi trường, nếu nhà trường có vật dụng thí nghiệm nào bị mất hoặc thiếu (thường thì không ai để ý) thì chắc chắn nó đang ở trong phòng học của tôi.

Đối với nhiều người, khoa học là nhàm chán, những kiến thức học trên lớp sau này dường như không thể áp dụng vào đời sống thực tại. Tại sao phải học những thứ cao siêu khi mà sau này chúng ta không sử dụng đến nó cơ chứ? Câu trả lời nằm ở chính ta, khoa học giúp chúng ta phát triển tư duy chính là trí thông minh, nó giúp việc suy nghĩ đơn giản hơn, chính xác hơn đồng thời khiến cho việc tiếp thu kiến thức một cách dễ dàng. Hoặc chí ít đối với tôi là vậy.

Qua thời gian, càng trưởng thành, niềm đam mê đối với khoa học ngày một lớn hơn. Cùng với những nỗ lực học tập, vào năm tôi 18 tuổi, tôi trúng tuyển vào một trong những trường đại học tuyệt vời nhất mà tôi từng biết. Đây là một trong những bước tiến lớn nhất trong hành trình đạt tới mục tiêu của đời tôi.

Tôi đã từng nhiều lần đi máy bay. Tuy nhiên, thay vì háo hức, bồi hồi, lần này, tôi cảm thấy thật buồn, thật trống rỗng, thật cô đơn. Chuyến bay một mình đến một nơi hoàn toàn xa lạ. Sau này, sẽ không còn bố mẹ bên cạnh chăm sóc, không còn những tiếng gọi ấm áp, không còn những câu mắng mỏ vì những lỗi lầm của tôi nữa. Xa phía cửa hải quan, bố mẹ đang vẫy tay chào. Lúc này, những suy nghĩ, những kỉ niệm xưa cứ ùa về. Thời gian bên cạnh bố mẹ sao giờ đây thấy ngắn ngủi quá, ước gì mình được ở lại thêm một năm nữa, à không, chỉ cần một tháng nữa thôi… Nước mắt tôi ứa ra, dù cho cố kiềm chế cỡ nào, nó vẫn cứ tuôn ra không ngưng. Lau đi hai hàng nước mắt, tôi cố mỉm cười và vẫy tay chào lại rồi quay lưng đi. Nhưng cứ bước được vài bước, tôi lại ngoảnh đầu lại, bố mẹ vẫn ở đó, dõi theo từng bước tôi đi cho đến khi khuất hẳn. Bước lên máy bay, giữ lại những kỉ niệm trong tim, tôi tiếp tục tiến bước trên con đường tới mục tiêu của cuộc đời.

Mặc dù có những khác biệt về tập quán, bạn bè, môi trường sống, tôi vẫn có thể thích nghi được với nơi đây và duy trì được cuộc sống khá ổn định. Tuy nhiên, trong những năm đại học, một việc đã xảy đến với gia đình tôi. Vào năm tôi 21 tuổi, thế giới bây giờ đang trải qua cơn dịch bệnh khủng khiếp, chính quyền thành phố yêu cầu toàn bộ người dân phải chấp hành cách ly ở nhà phải hạn chế đi ra ngoài, tránh tiếp xúc. Dưới sự khủng khiếp của bệnh dịch, tôi không thể quay về nước nên gần như tôi chỉ có thể gặp được người thân qua những cuộc gọi video. Tình trạng nơi quê hương tôi cũng tệ không kém nơi đây, nhưng vì công việc, bố mẹ vẫn phải di chuyển mặc dù đã cố gắng giảm thiểu nhất có thể. Nhưng rồi một ngày, bố mẹ… bị nhiễm bệnh. Biết được tin đó, tôi hoàn toàn sụp đổ. Tôi cảm thấy bản thân thật bất lực, thật vô vọng. Tôi căm ghét, căm phẫn cái người đó. Bây giờ, việc duy nhất có thể làm đó là cầu mong cho cha mẹ sớm khỏe lại sao cho họ không bị làm sao, không ảnh hưởng gì quá lớn. Ngày trôi qua, hôm nào cũng như vậy, tôi sống trong nỗi lo sợ, dằn vặt cả đêm, chỉ thiếp đi một chút khi đã không còn sức lực trong người. Nhận được tin báo, lòng tôi sốt sắng lên, chỉ có điều, khi đọc tin gửi đến, toàn thân tôi cứng đờ. Không thể tin vào mắt mình, tôi kiểm tra thật kĩ những thông tin người ta gửi, thậm chí còn gọi lại để kiểm chứng nhưng sự thật vẫn không thể thay đổi: ba mẹ tôi… đã qua đời.

Tôi ngất đi.

Tỉnh lại trên căn phòng lạnh lẽo, đầu tôi đau như búa bổ, không rõ chuyện gì làm mình ngất. Với chiếc bụng đói meo, tôi mò đi tìm đồ ăn như thường lệ. Cắn một miếng bánh mì, bắt đầu quan sát xung quanh.  Căn phòng thật khác lạ, hình như có chuyện gì vừa xảy ra, chiếc điện thoại nằm ngổn ngang, các vật phẩm khác đều đổ một cách lộn xộn.  Hình như tôi vừa nhớ ra điều gì đó, nước mắt bắt đầu ứa ra, tôi hét, tôi hét rất to, trút hết những phẫn nộ lên đồ đạc quanh nhà và cả môi trường quanh đây nữa. Tôi thét lên, thét đến khản cả giọng. Cơn đau đầu một lần nữa ghé thăm, cơn choáng váng, nỗi đau khi mất đi người thân, chán ghét cuộc đời đầy đau thương. Tôi muốn từ bỏ…

“Tại sao điều này lại xảy ra với mình?”
Câu hỏi cứ lặp đi lặp lại trong đầu tôi suốt một đêm dài, hai hàng lệ không ngừng chảy ra. Đó là một đêm dài dằng dặc.

“Trời đã sáng rồi à” – Lời nói phát ra từ cái đầu trống rỗng. – “Không biết hôm nay phải đi đâu không nhỉ?” – Dù sao tôi cũng không có ý định đi đâu cả, với cái tình trạng thế này.

Ding! – Một tiếng thông báo tin nhắn. Thường thì tôi sẽ mặc kệ, nhưng mà linh cảm gì đó đã khiến tôi đọc qua nó – một video bố mẹ tôi ghi lại sau khi biết tin bị bệnh.

“Aeverse à, nếu con nhận được video này thì chắc hẳn là bố mẹ không còn nữa, nhưng con phải biết một điều là: kể cả khi không còn được gặp bố mẹ nữa, thì chúng ta vẫn luôn theo dõi. Thế giới này còn rất nhiều điều mà con chưa biết, nó rất bí hiểm. Con còn nhớ bài học đầu tiên mà bố mẹ dạy không? Con không được bỏ cuộc, kể cả bất kì điều gì xảy ra, không được phép bỏ cuộc.” 

Được nhìn thấy bố mẹ, tôi òa lên khóc như một đứa con nít. Những kỉ niệm thời bé lại hiện ra, tôi như một đứa trẻ trong cơ thể của một người trưởng thành. Những câu nói khắc sâu vào tim, tôi thu gọn mình lại, hồi tưởng, suy nghĩ, khóc và rồi… thiếp đi.

Sáng hôm sau, tôi mở cửa phòng, bước ra ngoài, với một nụ cười khẽ nở, và bước đến trường.

Nhiều năm về sau, tôi đã đạt được mục tiêu hằng mong ước. Qua bao nhiêu khó khăn thử thách, bây giờ, tôi đứng trên cương vị của một giáo sư danh giá. Con người này đã trải qua nhiều cuộc nghiên cứu, nhiều lần giảng dạy, nhưng hiện tại, bên trong tôi lại trống rỗng. Bây giờ, không còn người thân kề cạnh, không có bạn bè, trong lòng tôi chỉ còn nỗi cô đơn. Tôi đã đạt được mục đích của mình nhưng có ý nghĩa gì chứ?
“Vậy thì hãy tạo ra nó đi, hãy cho thấy rằng mục tiêu của mày là một điều hết sức tuyệt vời” – một thoáng suy nghĩ vụt qua đầu tôi.
“Một người bạn… nhân tạo”

Và từ đó, tôi bắt tay vào việc tạo ra một A.I. 

_______________

[SEASON 2 • ORIGINAL SERIES #1] – PROLOGUE

Introduction:

– This is so … unbelievable! – Nothing can describe my feelings at the moment. A wonderful feeling is flowing through my body like it was taking off all the burden of life.

And so, the first artificial intelligence person was born … illegally.

Prologue:

– It’s not like that, why is it like that? – An excited saying from a child when facing a visual illusion.

In a small house, my parents and I are talking in the afternoon. My father took out a very strange item, never seen before. It has a round base, which appears to be rotatable, and has a double-sided photo fixed on top of the base. This photo was printed in a very strange way – both sides of the same shape, quite like a trapezoid but squeezed at the bottom, also perforated – it looked like a window. Dad asked:

– What does it look like?

 – Very like a window but printed on paper, it looks virtual – My mother said, it seems she did not know what he was going to do.

– Yes, it was drawn like a window, now let me turn this machine on.

The camera turns on, the picture starts to rotate, it turns quite slowly … no it doesn’t spin all the time, only half-turn and then stop and change direction. I still do not understand what he is going to do.

 – Who told you how the picture moved?

– It only turned half and then changed direction. – I quickly responded.

– Yeah, right, kind of wavering. – Mom added. But what was my mother’s answer confusing, wavering? I asked my mother:

– Oh mom, what is the oscillation?

– It is the phenomenon of a thing or repeating that many times, Aeverse. – Oh, so that’s it.

Dad stopped the machine, replied gleefully:

– No, both are wrong, it doesn’t waver, it’s spinning.

– What, is it spinning? – Me and my mother were both surprised.

It seemed like Dad, seeing that both mother and daughter were disbelieving, went on to do one more thing: take a ruler and put it in the middle slot and continue to start the machine. Both the paper and the ruler turned slowly. But gradually as the photo was facing me, it started to turn around, and the ruler continued to rotate. Miraculously, so absurd, the ruler goes through the paper, impossible. I was astonished at what happened, looking at her – she seemed a bit amazed at first but then understood what was going on. Dad said:

– This is called a visual illusion, this is just one of the many ways one can create illusions.

– Why is that? – I ask. But his father just smiled, he never explained, he replied:

– It is very difficult to explain to me because I do not have enough knowledge, I can find answers to this phenomenon when studying science subjects.

Indeed this was not the answer I wanted, quite upset, I put it inside the house. Sometimes he doesn’t explain. Each time, I just want to know more, but deep down I always cherished a dream, it was gradually nurtured through small experiments that my parents showed: becoming a scientist, then I not only fully understanding all the experiments but being able to create it as well. A simple dream of a child has made a goal for my whole life.

From that day on, the day my life goals were set, I seem to be focusing only on science, reading – which is strange for a child – and trying to follow The game is very simple in the book, ignoring all the playing time like everyone else.

When I went to high school, my favorite room was the lab. The school lab has all the things that I am missing, from the laboratory equipment to the environment, if the school has any missing or missing laboratory supplies (usually no one notices) then for sure. it’s in my classroom.

For many people, science is boring, the knowledge learned in class later does not seem to be applied to real life. Why learn something super when we don’t use it later? The answer lies in ourselves, the science that helps us develop our thinking is intelligence, it helps us to think simpler and more accurately at the same time making the acquisition of knowledge easy. Or at least for me.

Over time, growing up, my passion for science grew bigger and bigger. With all my academic efforts, when I was 18 years old, I entered one of the best universities I have ever known. This is one of the biggest strides in my journey to my life goals.

I have been on a plane many times. However, instead of being eager and anxious, this time, I felt really sad, so empty, so lonely. Solo flight to a completely unfamiliar place. After this, there will be no parents by my side to take care of, no warm calls, no more scolding for my mistakes. Far from the customs gate, parents were waving. At this time, the thoughts, the old memories just rushed back. The time with my parents is so short now, I wish I could stay for another year, no, just another month … Tears welled up, no matter how much I tried to control it. , it just kept pouring out non-stop. Wiping away my tears, I smiled and waved back and turned away. But every few steps I took, I turned my head again, my parents still there, watching my every step until I passed away. Stepping on the plane, keeping the memories in my heart, I continued to walk on my way to life’s goal.

Despite the differences in customs, friends, and living environment, I can adapt to this place and maintain a fairly stable life. However, during my college years, something happened to my family. At the age of 21, the world is now experiencing a terrible epidemic, the city government requires all people to comply with home isolation to limit going out and avoiding contact. Under the horrors of the epidemic, I was unable to return to my home country, so it was almost possible for me to only meet relatives through video calls. The situation in my hometown is just as bad as here, but because of work, my parents still have to move despite trying to minimize it as much as possible. But then one day, parents … got infected. Knowing that news, I completely collapsed. I feel so helpless, so hopeless. I hate, hate that person. Now, the only thing that can be done is to pray for their parents to get well soon so that they are not okay, with no big impact. As the days passed, every day was like that, I lived in fear, tormented the whole night, just falling asleep a little when I had no strength in me. Upon receiving the news, my heart was fervent, only when I read the news, my whole body froze. Unable to believe my eyes, I carefully checked the information people sent, even called back to verify but the truth still could not change: my parents … passed away.

I fainted.

Awakening in the cold room, my head hurts like a hammer, not sure what makes me faint. With a hungry stomach, I groped for food as usual. Bite on a piece of bread, start looking around. The room was so different, it seemed something just happened, the phone was sprawled, the other items were all messed up. Looks like I just remembered something, tears started to flow, I screamed, I shouted, pouring out all my anger on the furniture around the house and the environment here. I scream, screaming hoarsely. Headache once again visits, dizziness, pain when losing loved ones, disgusting a painful life. I want to give up …

“Why did this happen to me?”

The question kept going back and forth in my mind for a long night, tears pouring out incessantly. It was a long night.

“Is it morning already?” – Words came from the empty head. – “I wonder where to go today, right?” – Anyway, I have no intention of going anywhere, with this situation.

Ding! – One-hour message notification. Usually, I would just let it go, but a hunch got me reading through it – a video my parents took after learning of the illness.

“Aeverse, if you get this video, you probably won’t be there anymore, but you have to know one thing: even when we can’t see you anymore, we’re still watching. This world has many things that I do not know, it is very mysterious. Do you remember the first lesson that you taught me? You cannot give up, even if anything happens, cannot give up. ”

Seeing my parents, I burst into tears like a baby. Memories of my childhood appeared again, I was like a child in an adult’s body. Words engraved in my heart, I narrowed myself, reminisced, thought, cried, and then … fell asleep.

The next morning, I opened the door of my room, stepped outside, with a small smile, and walked over to the school.

Years later, I have achieved my desired goal. Through many difficulties and challenges, now, I stand in the position of a distinguished professor. This person has gone through many studies, many teachings, but now, inside I am empty. Now, with no relatives nearby, no friends, in my heart only loneliness. I have achieved my goal but what does it mean?

 “Then create it, let’s show that your goal is a very wonderful thing” – a moment of thought crossed my mind.

 “An … artificial friend”

And I set out to create an A.I.

_______________

Mọi thông tin xin liên hệ – For all inquiries, please contact:

Đặng Minh Trung: +8494 190 1469 (Trưởng ban Tổ chức – Head of Project)

Trần Đình Phương Uyên: +8436 643 7691 (Trưởng ban Đối ngoại – Head of Public Relations)

Email: prismproject20@gmail.com

Website: https://prismproject20.com/

Facebook: https://www.facebook.com/prismproject20/

[4. Wireless]

ENGLISH

Vẫn chưa hết bàng hoàng vì thất bại hôm qua, tôi đi loanh quanh trong nhà suy nghĩ về những gì mình đã làm. Thậm chí mình còn chẳng tác động được tí nào đến quy trình khám phá của Edison, chưa nói gì đến ngăn chặn! Đèn điện, thứ mang lại ánh sáng cho hàng tỉ người, giờ lại đang phủ tối suy nghĩ của tôi. Trong cơn tức giận bộc phát, tôi vớ lấy cái điều khiển nhà để tắt phụt tất cả đèn trong nhà với một nút bấm.

Tôi chợt dừng lại. Mình vừa làm gì thế nhỉ? Dùng điều khiển từ xa. Cái này quá phổ cập rồi, nhà cũ của tôi cũng có. Phải, mọi người đều coi nó là một vật tầm thường, rẻ tiền để điều khiển toàn bộ ngôi nhà của mình. Nhưng nếu không có nó thì sao? Tôi tự hỏi…

Không, không nên suy nghĩ theo hướng đó. Hãy bắt đầu từ gốc rễ của vấn đề. Nguyên lí của điều khiển từ xa là gì? Truyền sóng radio không dây, tất nhiên rồi. Các nhà khoa học đã thực hiện được kỹ thuật này lần đầu vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, đến đầu thế kỉ XXI thì phổ biến dưới dạng truyền thông tin qua Wifi, vệ tinh,…Và giờ đây, thế kỉ XXII, nó được nâng cấp thành phương thức truyền tải năng lượng chính giữa Trái Đất và các vệ tinh năng lượng mặt trời, cũng như giữa nguồn điện và rất nhiều thiết bị điện hàng ngày thay cho đống dây rợ lòng thòng đáng sợ trước kia.

Rõ ràng truyền tải không dây đóng một vai trò cực kì quan trọng trong cuộc sống loài người và sự xâm lấn của công nghệ vào thế giới hàng ngày. Nếu hủy diệt được bước tiến kĩ thuật này, chắc chắn tôi sẽ thay đổi hoàn toàn lịch sử và làm chậm đi những bước tiến khổng lồ của khoa học kĩ thuật trong suốt 200 năm qua.

Maxwell chứng minh sự tồn tại của sóng điện từ bằng lý thuyết vào năm 1864, Hertz phát và thu được sóng điện từ lần đầu năm 1887. Tuy nhiên, phải nhờ có Guglielmo Marconi, giành giải Nobel Vật lý năm 1909 cho “đóng góp của [ông] vào sự phát triển của điện tín không dây”, thì truyền tải không dây bằng sóng điện từ mới thực sự trở thành khả thi về mặt kĩ thuật và thương mại.

Marconi thân mến, cho tôi xin lỗi trước nhé.

***

Bologna, Italy, 1895.

Nhà Marconi. Trong suốt năm 1895, đây là nơi Marconi đã thử nghiệm với nhiều cấu hình máy thu phát tín hiệu khác nhau. Từ những máy đơn giản đã được thiết kế trước đó, ông đã dần dần tự mày mò những thiết kế nhạy hơn và cho phép ghi lại tín hiệu dưới dạng mã Morse. Một máy phát là một mạch dao động gồm có tụ điện (tích trữ năng lượng điện) và cuộn dây (tích trữ năng lượng từ). Do thiết kế, mạch này không kín mà dao động của dòng điện và hiệu điện thế trong mạch này thất thoát ra ngoài dưới dạng bức xạ điện từ quen thuộc. Bức xạ này truyền đến đầu thu và được ghi lại thành tín hiệu điện. 

Tôi có thể làm gì để cản trở những thí nghiệm này đây? Nhớ lại những lần trước, tôi thường hoạt động một mình. Nhưng giờ tôi đã biết một mình tôi là không đủ sức để chống lại sức mạnh của bộ não của những con người như thế này. “Để đi xa, hãy đi cùng nhau.” Có lẽ tôi nên nghe theo câu nói này chăng? 

Thế là tôi sống toàn thời gian tại ngôi làng của Marconi từ đầu năm 1895, hòa nhập với cộng đồng và báo chí địa phương. Chúng tôi thường xuyên có những cuộc nói chuyện về thí nghiệm của Marconi. Đó là một điều mới lạ đối với người dân, nên họ có vẻ thích thú.

“Nó có thể liên lạc từ xa không dây à? Nghe hay đấy chứ. Nếu mưa bão phá hủy đường dây điện thì mình vẫn liên lạc được với nơi ở xa. Có thể cứu nhiều mạng sống đấy!”

Thiết kế có lẽ là đột phá của Marconi hoàn thành vào tháng 8, khi ông đặt bộ phát và bộ thu ở trên cao và kết nối với mặt đất. Điều này tạo ra một tụ điện lớn, làm tăng năng lượng sóng và giảm tần số, tăng bước sóng. Bước sóng lớn giúp tín hiệu truyền xa hơn và đi vòng quanh các vật cản nhỏ hơn, giúp việc liên lạc trở nên khả thi hơn rất nhiều.

“Marconi hôm qua đã thực hiện truyền tín hiệu giữa hai điểm bị chắn bởi một ngọn đồi. Trợ lý của ông đã bắn ba phát súng để báo hiệu đã nhận được tín hiệu. Đây có lẽ là một bước tiến lớn hướng đến việc truyền sóng radio” – Báo địa phương

Tình hình này không được. Tôi phải bẻ lái dư luận. Nếu người dân phản đối, báo chí phản đối thì Marconi khó mà tiếp tục được thí nghiệm, dù ông ta có thiên tài đến mức nào đi chăng nữa. Phải, họ sẽ đập phá thiết bị của ông ta và có khi còn đuổi ông ta ra khỏi làng chứ chẳng đùa! Thế là tôi bắt đầu chiến dịch tin giả của mình. Những lời nói vu vơ với nhiều người khác nhau, một bài báo ẩn danh trên tờ báo địa phương. Thật đơn giản.

“Làm sao ông ta liên lạc được xa thế nhỉ? Chắc là phải tốn nhiều năng lượng, điện thế phải cao lắm. Liệu điều đó có đủ để tạo ra sét đánh trong không khí không? Nếu có sét thì nguy hiểm phết nhỉ. 100 volt là đủ tạo ra dòng điện chết người rồi đấy!”

“Ông ta liên lạc bằng sóng điện từ phải không? Vậy cái thứ sóng đấy sẽ ngập tràn trong không khí. Nhưng nó có hại cho chúng ta đấy! Người ta nói rằng sóng làm giảm hệ miễn dịch của ta, làm ta dễ mắc cúm hay các bệnh khác hơn!”

“…Sự kiện tháng trước khi Marconi thực hiện truyền sóng giữa khoảng cách 2.4km vẫn đang thu hút sự chú ý lớn của người dân địa phương. Tuy nhiên, một số chuyên gia cho rằng sóng điện từ từ những thí nghiệm này có thể gây ảnh hưởng không tốt đến cuộc sống thường ngày… Một số người dân đã quyết định sẽ cùng nhau lên tiếng phản đối những thí nghiệm kì quặc này tại nhà ông Marconi vào thứ bảy tới.” – Báo địa phương

Con người rất dễ dao động và tin vào những tin đồn giật gân, thay vì bình tĩnh suy xét sự việc bằng lí luận logic. Thật vậy, những lời đồn thổi và bài báo của tôi đã lôi kéo được một đám đông vài chục người đến nhà Marconi vào ngày đã hẹn, tất cả đều nghĩ rằng mình chỉ đang làm theo một số người khác. Kết quả ư? Mỹ mãn.

“Ra đây, Marconi!”

“Ông định giết hết chúng tôi à, Marconi!”

“Dừng những thí nghiệm kì quặc này lại, Marconi!”

“Mọi người, xông vào!”

Đứng từ một khoảng cách, tôi trông thấy Marconi cố hết sức giải thích cho đám đông phẫn nộ: “Những thí nghiệm của tôi là hết sức an toàn, mọi người ở khoảng cách lớn; ngoài ra một số thiết bị còn có lưới chắn điện, chắc chắn không có nguy hiểm gây sét đánh hay gì đâu. Hơn nữa, năng lượng sóng này rất bé so với ánh sáng bình thường, chỉ nếu tiếp xúc ở cường độ rất lớn mới có thể làm nóng cơ thể và gây hại thôi. Các vị chắc chắn không gặp vấn đề gì đâu, nếu có hại thì tôi mới là người có nguy cơ cao chứ!”

À thì, tất nhiên là ông ta nói đúng. Bước sóng ông ta sử dụng toàn vào cỡ hàng mét trở lên, năng lượng tổng đến được cơ thể chắc chắn nhỏ hơn rất nhiều so với năng lượng đó của lò vi sóng hiện đại. Cơ mà những người dân chưa biết tí gì đến tương lai, nơi sóng radio hiện diện xung quanh con người, làm sao mà tin vào những lời giải thích này được, một khi họ đã nghi ngờ và sợ hãi.

“Thôi được rồi, tôi sẽ dừng những thí nghiệm của mình lại. Tôi sẽ làm theo lời các anh!”

Chờ đã. Tôi đã thành công rồi sao? Không thể dễ dàng thế được! Tôi hồi hộp theo dõi và chờ đợi trong hàng tuần liền. Marconi suốt một thời gian im lìm trong nhà, không thấy ra ngoài làm thí nghiệm nữa…

Đùng một cái, vài thùng hành lý to tướng xếp đầy trong sân nhà Marconi. Ộng ta tuyên bố mình sẽ đến Anh.

Thôi thì, ít ra tôi cũng thắng một keo – đuổi được ông ta ra khỏi quê nhà thân thuộc với sự ủng hộ của mọi người. Giờ tôi phải đi Anh theo ông ta đây. Ai mà biết được ông ta sẽ làm gì ở vùng đất mới đó?

***

1901

Trên chuyến tàu vượt Đại Tây Dương

Sau hàng loạt lần “công diễn” ở Anh, Marconi đã nhận được sự chú ý lớn và tiền tài trợ cũng lớn không kém. Năm 1899, ông ta đã thành công trong việc truyền tin qua eo biển Manche ngăn cách Anh và Pháp. Nhưng bước đột phá truyền thông đến vào năm 1901, năm ông ta thực hiện lần truyền tin lịch sử xuyên Đại Tây Dương. 

Tôi đăng ký làm trợ lý riêng cho Marconi trước đó vài tháng. Rút kinh nghiệm từ những lần trước, điều này sẽ giúp tôi tiếp cận trực tiếp, nói chuyện hàng ngày với nhà phát minh, từ đó gây ảnh hưởng lên ông ta. Tôi sẽ xoáy vào điều mà rất nhiều nhà khoa học cùng thời cũng lầm tưởng: sóng radio không thể truyền quá xa do độ cong của Trái Đất.

Marconi tin vào điều ngược lại và quyết tâm thực hiện thí nghiệm chứng minh rằng sóng radio có thể được thu nhận xuyên Đại Tây Dương – khoảng cách lên tới 3500km. Dù vậy, ông ta không có cơ sở lý thuyết nào cho niềm tin này. Thật vậy, phải đến năm 1925, các nhà khoa học mới tìm ra bằng chứng về tầng điện li của khí quyển Trái Đất, thứ, cùng với bề mặt Trái Đất, phản xạ lại các sóng vô tuyến, trong khi sóng vẫn truyền đi theo phương ngang, giúp sóng có thể truyền vòng quanh Trái Đất.

Hiện tôi đang đi cùng Marconi trên chuyến tàu vượt Đại Tây Dương đến Mĩ để thực hiện thử nghiệm. Đúng vậy, thời gian tới cuộc thử nghiệm lịch sử này có lẽ chỉ còn tính bằng tháng, thậm chí là tuần. Phải tác động ngay thôi.

Sáng sớm một ngày trời quang đãng, tôi thấy Marconi đang đứng bên lan can ngắm cảnh bình minh trên biển như để thư giãn sau một đêm tranh luận đầy mệt mỏi với các trợ lý kĩ thuật về các trở ngại trong việc nhận tín hiệu. Có lẽ đây là thời điểm tốt để tôi nói chuyện với ông ta?

“Thưa ông, tôi nghĩ điều này là bất khả thi. Ông định dùng bước sóng gần 400m, thì nó chỉ có thể đi vòng qua vật cản có độ lớn cỡ đấy thôi chứ? Nó làm sao vòng qua được hàng nghìn kilomet của Trái Đất?”

“Tôi tin rằng việc kết nối các thiết bị với Trái Đất sẽ giải quyết được vấn đề này. Có lẽ Trái Đất sẽ tham gia vào mạch điện.”

Tôi biết rằng độ hấp thụ của Đại Tây Dương đối với sóng điện từ là rất lớn, nên điều này thực tế là không thể được. Sao ông ta lại sẵn sàng đánh cược vào lời giải thích này nhỉ?

“Ông nên tập trung vào phát triển thương mại cho các trạm phát sóng tầm trung bình và ngắn, đặc biệt là ở châu Âu. Chắc chắn thị trường sẽ rất lớn. Theo đuổi phát sóng dài vừa tốn công sức, tiền của, thời gian, lại làm mất hình ảnh trong công chúng. Tôi chân thành khuyên ông không nên làm thế!”

“Anh này, anh là một thư kí và quản lý rất tốt, nhưng anh chưa có được tinh thần của một nhà khoa học rồi. Chúng ta chưa hiểu rõ về cơ chế của việc truyền tín hiệu đi xa, nên không có kết luận lý thuyết nào là đáng tin cả. Chỉ có thực nghiệm mới cho ta câu trả lời! Nếu không thử thì sao ta có thể biết được?”

Những lần nói chuyện sau cũng tốn công vô ích. Tuy ông ta không phàn nàn gì tôi (đấy là ngoài mặt, còn trong lòng chắc cũng phải khó chịu với một thằng suốt ngày lảm nhảm ý kiến trái ngược với mình chứ), nhưng ý định của ông ta có vẻ không tài nào lay chuyển được. Có lẽ ông ta có linh cảm của một thiên tài? Linh cảm, đi cùng với đam mê và quyết tâm đẩy công nghệ của mình vượt qua giới hạn của nó. Tôi cũng phải công nhận là đáng khâm phục. Phải tạm dừng thôi, nếu không ông ta có khi cho tôi ở lại hậu phương luôn trong cuộc thử nghiệm sắp tới ấy chứ!

***

Newfoundland

Thời tiết đã phá hủy thiết bị của trạm sóng ở Cape Cod, vì vậy Marconi quyết định mang dụng cụ thu sóng đến St. Johns’, Newfoundland. Tôi cũng đi cùng ông ta với tư cách trợ lý. Tuy nhiên, mục đích thật sự của tôi lại là thu thập bằng chứng giả để loan tin rằng ông ta đã không bắt được tín hiệu thực sự. Kế hoạch lần này chắc chắn sẽ thành công y như lần trước.

Tôi ngước nhìn lên bầu trời Newfoundland. Ở đâu đó trên kia (hơn 80km thì phải, tôi không giỏi thuộc số liệu!) chính là tầng điện li, cái sẽ đem lại thành công cho Marconi (tạm thời thôi). Trên đó, bức xạ Mặt Trời và tia vũ trụ đang không ngừng tấn công, bắn phá các phân tử khí, làm bật ra cả các điện tử, còn gọi là electron. Lớp plasma được tạo thành có chiết suất nhỏ (nhỏ hơn 1!) với sóng vô tuyến dẫn đến hiện tượng phản xạ mạnh ngược trở lại không khí cho các bước sóng radio lớn. Vật lý nhiều lúc thật đẹp đẽ và đơn giản.

Quay về với thực tại, tôi phải đối mặt ngay lập tức với đống dụng cụ cồng kềnh để thu sóng. Vâng, Marconi và trợ lý George Kemp sẽ thả diều để đưa bộ thu sóng lên! Họ còn phải dùng bộ thu sóng thô sơ hơn dự tính, do gió làm ảnh hưởng mạnh đến tính ổn định của thiết bị. Vào 12h30 ngày 12 tháng 12 năm 1901 giờ địa phương, Marconi thông báo đã nhận được tín hiệu (chỉ là ba dấu chấm, mã Morse cho chữ cái S). Đã thế, do thời tiết xấu, ông ta không mời được ai độc lập với nhóm nghiên cứu để kiểm chứng. Cuối cùng là thời gian truyền tải vào buổi trưa. Truyền tải vào ban ngày có tầm xa thấp hơn nhiều so với ban đêm, vì tác dụng ion hóa mạnh của ánh sáng Mặt Trời so với các tia vũ trụ vào ban đêm làm tầng điện li trở nên dày và đặc hơn, ảnh hưởng xấu đến khả năng phản xạ sóng vô tuyến. Cảm ơn nhé, các ông làm công việc của tôi dễ hơn nhiều, khi chính tôi cũng  tin vào điều tôi sẽ nói.

Sau khi tin tức về sự kiện ở Newfoundland lan truyền đi, cộng đồng các nhà khoa học và cộng đồng thế giới hết sức ngỡ ngàng và không ngừng hoan hô Marconi. Thế nhưng, chỉ sau một vài ngày, xuất hiện một bài báo chỉ ra rằng tín hiệu mà Marconi nhận được thật ra chỉ là nhiễu loạn của khí quyển. Hơn nữa, bài báo này còn có bằng chứng từ trợ lý riêng của ông ta. Người trợ lý này kể chi tiết về quá trình thiết đặt dụng cụ thô sơ và thời tiết xấu ngày hôm đó, cũng như sự không chắc chắn trước đó của Marconi về sự thành công của thí nghiệm và nhiều “bằng chứng” khác. Ông này dùng kinh nghiệm nhiều tháng ở bên Marconi để khẳng định rằng thí nghiệm này thực tế chưa thành công. Ông cũng thông báo ông đã xin nghỉ công việc của mình.

Sau bài báo của tôi, cộng đồng khoa học dấy lên nhiều nghi ngờ. Thế nhưng, tôi lại cảm thấy có chút bứt rứt. Sau nhiều tháng làm cho Marconi, tôi nhận thấy được khả năng làm việc hết sức chăm chỉ cũng như tài lãnh đạo và sự trầm tính của ông. Có lần tôi còn được nghe ông đánh piano, thật sự là khá hay. Đến lúc kế hoạch đã thành công tôi mới nhìn lại. Nhưng tôi còn có thể làm gì khác? Thôi, tôi đành hi vọng rằng ông sẽ không hoàn toàn suy sụp.

Quả thật, Marconi không có phản ứng gì mạnh mẽ. Vốn tính ông là thế mà, luôn khiêm tốn và bình tĩnh xử lý mọi việc.

Thật vậy, hai tháng sau…

Marconi thông báo về chuỗi thử nghiệm đo đạc tín hiệu trên tàu SS Philadelphia với dữ liệu thu thập tại nhiều vị trí thể hiện độ tin cậy, đồng thời thể hiện rõ sự chênh lệch giữa khoảng cách truyền ngày và đêm.

Từ cuối năm 1902, những bức thư hoàn chỉnh đã bắt đầu được gửi xuyên Đại Tây Dương. Marconi cũng đã phát triển một dụng cụ thu sóng mới, gọi là cảm biến từ (magnetic detector), nhạy và tin cậy hơn dụng cụ cũ nhiều. Cộng đồng khoa học và xã hội đã quay lại ủng hộ Marconi. Tôi cũng không nghĩ ra cách nào để đảo ngược tình thế…

***

Con lại một lần nữa thất bại rồi… Không thể lay chuyển linh cảm và quyết tâm của nhà phát minh, còn tung tin giả và dựa vào truyền thông cũng không có hiệu quả dài lâu. Những thành tựu vĩ đại rồi cũng sẽ tự chứng minh cho chính nó. Một keo nữa tâm phục khẩu phục.

Giờ đây, tôi lại quay về với điểm xuất phát. Phải làm gì để đảm bảo lần sau thành công đây?

Tôi thở dài, bật kênh tivi cho người hoài cổ để nghe những bản nhạc xưa cũ. Hôm nay bài gì đây? Radio Ga Ga – Queen. Bài này hay đấy.

*Nguồn:

Click to access marconi-lecture.pdf

https://www.britannica.com/biography/Guglielmo-Marconi

https://www.nobelprize.org/prizes/physics/1909/marconi/biographical/

https://en.wikipedia.org/wiki/Invention_of_radio

Click to access p37.pdf

Still shocked by my failure yesterday, I wandered around the house thinking about what I had done: I hadn’t even made the slightest impact on Edison’s discovery process, let alone destroy it! Light bulbs, whose glow has brought light to billions of people, are now leaving me in the dark. In a fit of anger, I grabbed the remote control, and all the lights in the house got switched off just by pushing one button.

I suddenly stopped.

What have I just done?

Use remote control.

It is so common that there was one in my old house, too. Yes, everyone considered it a trivial, cheap item to control his or her whole house. But what if it never had existed, I wonder…

No, don’t think about it that way. Must start at the problem’s root. What is the principle of remote controls? Of course, the wireless transmission of radio waves. Scientists have implemented this technique for the first time in the late nineteenth century/ the early twentieth century; by the beginning of the twenty-first century, it already became common as tools for transmitting information via Wi-Fi, satellites, and so on. At the moment – the twenty-second century, it has been upgraded to be the most widely-used mean of energy transmission between the Earth and solar satellites, as well as between power sources and myriad household electrical equipment, instead of the once-famous, frightening wires.

It is apparent that wireless transmission plays an extremely critical role in human life and the invasion of technology into the everyday world. If destroying this technological advance, I will definitely change the whole history and slow down the enormous advances in science and technology during the past 200 years.

Maxwell theoretically proved the existence of electromagnetic waves in 1864. Hertz first generated and obtained electromagnetic waves in 1887. However, not until Guglielmo Marconi won the 1909 Nobel Prize in Physics for “in recognition of [his] contributions to the development of wireless telegraphy” had wireless transmissions of electromagnetic waves actually become technically and commercially feasible.

Dear Marconi, please accept my apologies.

Bologna, Italy, 1895.

Marconi House – throughout 1895, this was where Marconi experimented with various signal transceiver configurations. From previously-designed, simple machines, he gradually turned to study more sensitive designs, which allow recording signals in the form of Morse code. A generator is an oscillating circuit consisting of a capacitor (storing electrical energy) and a coil (storing magnetic energy). Due to its design, this circuit is not closed, which causes the fluctuations of the current and voltage “leaking out” as electromagnetic radiation that we all have known. This radiation was then transmitted to the receiver and recorded as an electrical signal.

What can I do to hinder these experiments? Recalling the previous times, I realize I was often on my own. Nonetheless, now I know that I alone am not strong enough to go against the capability of these people’s brains. “To go far, we must go together.” Maybe I should listen to this statement?

Therefore, I had lived full-time in the village of Marconi since the beginning of 1895, integrating with the local community and the press. We often had conversations about Marconi’s experiments. It was a new thing for the people, so they seemed to enjoy it.

“Can it enable wireless remote communication? Sounds amazing. I can still contact the distant place even if storms destroy the power line. Many lives will probably be saved!”

The design, which was probably Marconi’s breakthrough, was completed in August when he placed the transmitter and receiver above and connected them to the ground. This creates a large capacitor, which increases waves’ energy and reduces their frequency, increasing the wavelength. The large wavelengths allow the signal to travel farther and around smaller obstructions, making communication much more feasible.

“Marconi yesterday transmitted a signal between two points blocked by a hill. His assistant fired three shots to signal the reception. This is probably a major step towards radio waves transmission” – Local newspaper

This situation is not okay. I have to change public opinion. If the people and the media protested, Marconi could hardly continue the experiment, no matter how ingenious he was. Yes, they would smash his device and maybe even kick him out of the village! Accordingly, I started my fake news campaign: vague words to many different people, an anonymous article in the local newspaper. So simple.

How was he able to make communication that far? It should take a lot of energy, which means the voltage must be very high. Is that enough to create lightning strikes in the air? If there’s lightning, it’s dangerous. A hundred volts is enough to create a deadly current!”

“Is he communicating by an electromagnetic wave? It means that those waves will be all over the place in our atmosphere, yes they are harmful to us! The wave is said to undermine our immune systems, making us more susceptible to influenza or other illnesses!”

“… The event last month when Marconi made the transmission between a distance of 2.4km is still attracting great attention from the locals. However, some experts believe that the electromagnetic waves that these experiments generate may have a negative impact on daily life … Some people have decided to raise their voices against these peculiar experiments at Mr. Marconi’s house next Saturday. ” – Local newspaper

People are easy to waver and believe in sensational rumors, rather than calmly considering things with logical reasoning. Indeed, my rumors article drew a crowd of a few dozen people to Marconi’s house on the appointed date, all thinking that they were only following some others. The result? Marvelous.

“Come out, Marconi!”

“You are going to kill us all, Marconi!”

“Stop these peculiar experiments, Marconi!”

“Everyone, break in!”

Standing from a distance, I saw Marconi trying his best to explain to the angry crowd: “My experiments are very safe, at great distances from people; some devices even have protective nets. There is no danger of lightning or anything. Moreover, the energy of this wave is very small compared to normal light. Only if it is exposed at very high intensity can it heat the body and cause harm. You definitely have no problems, if it’s harmful then I’m the one at high risk! ”

Well, of course he’s right. The wavelength he used was all the size of meters or more, the total energy reaching the body was certainly smaller than that of a modern microwave. But the people who have no idea of the future, when radio waves exist all around our bodies, could never have believed these explanations, once they were suspicious and scared.

“Alright, I’ll stop my experiments. I will do as you ask! ”

Wait. Am I successful? It can’t be that easy! I watched anxiously and waited for weeks. Marconi laid low indoors for a while, instead of going outside to do experiments …

Out of the blue, several large luggage boxes filled Marconi’s yard: he announced he was going to England.

Well, at least I won a match – chasing him out of his home sweet home, which was filled with the support of everyone. The next step is to follow him. Who knows what he would do in the new land?

***

1901

On the train across the Atlantic

After a series of demonstrations in the UK, Marconi had received great attention and significant sponsorship. In 1899, he succeeded in transmitting messages across the English Channel, which separates England and France. However, the media breakthrough didn’t occur until 1901 – the year he made the historic transatlantic transmission.

I registered to be Marconi’s personal assistant a few months before that. According to previous experience, this would help me approach directly and share daily conversations with the inventor, thereby affecting him. I would focus on what many of his contemporaries also believe: radio waves cannot travel too far due to the curvature of the Earth.

Marconi believed the opposite and was determined to conduct experiments proving that radio waves can be received across the Atlantic – a distance of up to 3500km. However, he had no theoretical basis for this belief. Indeed, it was not until 1925 that scientists found evidence of the ionosphere of our atmosphere, which, along with the surface of the Earth, reflects radio waves while the waves continued to propagate horizontally, allowing waves to travel around the Earth.

I was currently traveling with Marconi on a transatlantic train to the United States to carry out the experiment. Yes, this historical experiment was about to occur in months, even weeks. Must act immediately.

In the early morning of a cloudless day, I saw Marconi standing by the railing and watching the sunrise on the sea as if to relax after a night of tiring debate with the technical assistants about the obstacles in receiving signals. Perhaps this was a good time for me to talk to him?

“Sir, I think this is impossible. If you’re going to use a wavelength of nearly 400 meters, then it can only go around obstacles of that magnitude? How does it get around thousands of kilometers of the Earth? ”

“I believe connecting devices to Earth will solve this problem. Perhaps the Earth also participates in the circuit. “

I knew that the Atlantic’s absorption of electromagnetic waves is enormous, so this is practically impossible. Why is he willing to bet on this explanation?

“You should focus on commercially developing medium- and short-range broadcast stations, especially in Europe. The market will definitely be huge. Pursuing long-range broadcasts takes effort, money, time, and loss of public image. I sincerely advise you not to!”

“Man, you are a good secretary and manager, but you don’t have the spirit of a scientist. We do not fully understand the mechanism of signal transmission so far, so no theoretical conclusions are trustworthy. Only experiments can give us an answer! If we don’t try it, how can we know?”

The latter conversations are also useless. Although he never complained to me (on the outside, although he must somewhat be annoyed with a guy who keeps talking about his opinions all the time), his intention didn’t seem to alter. Perhaps he had a hunch of a genius? Intuition, along with passion and determination to push our technology beyond its limits. I must also say they were admirable. I had to delay my plan now; otherwise, he might leave me behind in the upcoming experiments too!

***

Newfoundland

Because the weather destroyed the radio station equipment on Cape Cod, Marconi decided to bring the receiver to St. John’s, Newfoundland. I also went with him as an assistant. However, my actual purpose was to gather false evidence to spread the news that he had not caught the real signal. This plan would surely succeed just like the last time.

I looked up at the sky of Newfoundland. Somewhere up there (probably more than 80km, I’m not good at remembering the data!) is the ionosphere, which would bring success to Marconi (temporarily). On it, solar and cosmic rays were constantly attacking and blasting gas molecules, which resulted in those molecules’ loss of electrons. The created plasma layer, which had a small refractive index (less than 1!), along with radio waves, resulted in strong reflections back to the air for large radio wavelengths. Physics is sometimes simple yet beautiful.

Back to reality, I immediately had to face an overwhelming amount of bulky equipment required to receive the signal. Yes, Marconi and his assistant George Kemp would fly a kite to bring up the receiver! They also had to use simpler receivers than expected, because the wind strongly affects the stability of the device. At 12:30 on 12th December 1901 local time, Marconi announced to have received the signal (just three dots – the Morse code for the letter S). Moreover, due to bad weather, he could not invite anyone besides his research team to verify. Additionally, the transmission time was at noon. Daytime transmission is only able to transmit far closer than nighttime transmission, since the strong ionization effect of sunlight compared to cosmic rays at night makes the ionosphere thicker and denser, adversely affecting the ability to reflect radio waves. Thank you for making my job much easier when I also believed what I was going to say.

After the Newfoundland news spread, the community of scientists and global communities were extremely astonished and endlessly cheered Marconi. However, after only a few days, an article was posted, showing that the signal Marconi received was actually just turbulence of the atmosphere. Moreover, this article also had evidence from his personal assistant. The assistant detailed the simple equipment installation and bad weather that day, as well as Marconi’s previous uncertainty about the success of the experiment and many other “evidence”. The man used many months of experience with Marconi to confirm that this experiment was not really successful. He also announced to have quit.

After my article, there were numerous doubts about Marconi raising in the scientific community. However, I felt a bit uneasy. After months of working for Marconi, I realized his assiduousness as well as his leadership and quietness. Once I even heard him play the piano, which was pretty good. It was not until the plan succeeded did I look back. But what else could I do? Well, I just hoped that he would not completely collapse.

Indeed, Marconi did not react strongly. That’s how he was, always humble and calmly handled everything.

Indeed, two months later…

Marconi announced the signaling experiment series on SS Philadelphia with reliable data collected at various locations, which simultaneously showed the difference in distances between day and night transmission.

From the end of 1902, complete letters began to be sent across the Atlantic. Marconi also developed a new receiver called the magnetic detector, which is much more sensitive and reliable than the old device. The scientific and social community then returned to support Marconi. I also couldn’t think of a way to reverse the situation…

***

I failed again. Unable to modify the inventor’s intuition and determination, launching fake news and relying on the media couldn’t work for long. Great achievements would then prove itself. Well, another complete failure.

I was now back to the starting point. What to do to ensure the next success?

I sighed, turning on the television channel with old, nostalgic music. What was this post today? Radio Ga Ga – Queen. What a cool song!

*Citation:

Click to access marconi-lecture.pdf

https://www.britannica.com/biography/Guglielmo-Marconi

https://www.nobelprize.org/prizes/physics/1909/marconi/biographical/

https://en.wikipedia.org/wiki/Invention_of_radio

Click to access p37.pdf

[3. Light bulbs]

English

Sau thất bại muối mặt tuần trước, tôi đã lại đang tiếp tục lên kế hoạch cho sáng chế cần phải phá hủy tiếp theo. Trước mặt tôi là hai sáng chế với tầm quan trọng vượt bậc: bóng đèn điện, và kỹ thuật in ấn.

Thật là khó để chọn giữa hai phát minh này. Không cần phải bàn cãi, cả hai đều đã, theo cách riêng của mình, vĩnh viễn thay đổi bộ mặt của thế giới. Với bóng đèn điện, ánh sáng từ chúng, ngay cả dù chỉ là những chiếc bóng điện đời đầu, cũng đã hoàn toàn áp đảo ánh sáng mập mờ từ những chiếc đèn dầu và nến. Nhờ nguồn ánh sáng mạnh mẽ và dồi dào ấy, cuộc sống con người đã trở nên tốt đẹp hơn rất nhiều. Về phía ngược lại, kĩ thuật in ấn cũng không thể coi thường: chỉ với nó mà chúng ta mới có những cuốn sách để đọc mà không phải nhờ đến những bản chép tay với giá cả đắt đỏ mà chỉ những gia đình quyền quý mới có thể sở hữu. Không ngoa khi nói rằng kỹ thuật in ấn đã là chất xúc tác mạnh nhất cho quá trình truyền bá kiến thức và văn minh của nhân loại.

Tuy vậy, tầm quan trọng là một chuyện, còn việc ngăn chặn phát minh xảy ra lại là một chuyện khác. Lịch sử của kỹ thuật in là một quá trình kéo dài xuyên suốt lịch sử văn minh nhân loại. Từ những năm đầu sau Công Nguyên, người Trung Hoa đã sử dụng những bản khắc gỗ để phục vụ cho quá trình in ấn. Cụ thể, có những bằng chứng rằng từ năm 220 sau Công nguyên, ở Trung Hoa đã thịnh hành kỹ thuật in bằng bản khắc gỗ nổi, trong đó những con chữ được in nổi trên một bản khắc gỗ trước khi được bôi mực để áp lên giấy, một cơ chế gần giống với giấy than ngày nay. Vào năm 1040, nhà phát minh Tất Thăng đã sử dụng con chữ nổi rời để làm gọn quá trình in ấn qua việc sắp xếp các con chữ để tạo thành bản in thay vì phải khắc cả bản như trước. Trong khi đó, vào năm 1439, nhà sáng chế người Đức Johannes Gutenberg đã kết hợp sử dụng chữ rời và các cải tiến khác trong nghề in để tạo ra chiếc máy in hoàn chỉnh đầu tiên của nhân loại. Đó chỉ là những dấu mốc quan trọng nhất – ngoài ra chắc chắn còn vô số các đóng góp khác trong tiến trình hơn một thiên niên kỉ trên nữa.

Vậy không thể nào ngăn cản máy in được – phát minh ấy là cả một tiến trình và đã dần dần thành hình thông qua nhiều phát minh nhỏ lẻ mà không có bước đột phá nào. Vậy còn bóng đèn điện thì sao? Quá trình phát triển của nó tập trung chủ yếu ở thế kỉ 19, với sợi carbon phát sáng của nhà hóa học Humphry Davy, đến đèn sợi platin của Joseph Wilson Swan, và cuối cùng thành hình sau hơn 5000 lần thử nổi tiếng của nhà phát minh Edison. Với lịch sử phát triển tóm gọn trong chỉ một thế kỉ như vậy, tôi tự tin rằng tôi sẽ có thể ngăn cản được phát minh này. Hơn nữa, khác hẳn với các nhà phát minh trước đó, bóng đèn của Edison là chiếc bóng đèn đầu tiên cháy sáng đủ lâu và do đó phù hợp với sản xuất hàng loạt. Chắc chắn, nếu không có được sự cần cù và nhẫn nại của ông, chiếc bóng điện đã không thể thành hình.

Điều đó làm ông, không ai khác, sẽ là mục tiêu tiếp theo của tôi.

—————————————

Menlo Park, năm 1875.

Với phát hiện “sợi phát sáng” của Davy, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã và đang lao vào nghiên cứu một chiếc bóng đèn điện hiệu quả. Và ngay ở trung tâm nghiên cứu này chính là nơi tụ tập của những phát minh đó. Khác với các phòng thí nghiệm truyền thống, Menlo Park là một phòng thí nghiệm công nghiệp, và người chủ của nó, Thomas Alva Edison, không chỉ là một nhà sáng chế mà còn là một nhà kinh doanh tài giỏi. Ông cũng đã gây dựng được lòng tin ở nhân viên với không chỉ cách ứng xử của mình, mà còn vì chính sách đãi ngộ vô cùng tốt.

Tình hình này căng thẳng phết. Có lẽ cách mua chuộc nhân viên của tôi như lần trước sẽ khó có tác dụng, đồng thời việc can thiệp từ phía bên ngoài cũng sẽ thiếu hiệu quả hơn rất nhiều. Chính vì thế, tôi muốn trở thành một người bên trong tổ chức. 

Vì vậy, việc đầu tiên tôi làm là liên hệ với Henry Woodward và Matthew Evans, hai nhà sáng chế người Canada đã được trao bằng sáng chế đèn sợi đốt carbon trong bóng đèn nitơ một năm trước đó. Trong vòng một năm qua, họ đã không thể thương mại hóa thành công sản phẩm của mình, và đây chính là cơ hội của tôi. Cùng một lúc, tôi với vai trò mai mối đứng ra liên hệ công ty của Edison với hai nhà sáng chế tội nghiệp kia và đề nghị Edison mua lại bằng sáng chế của họ. Công việc diễn ra vô cùng trôi chảy, và chỉ hai tháng sau quá trình chuyển nhượng đã được hoàn tất, sớm hơn 4 năm so với tiến trình thật của lịch sử là vào năm 1879. Bù lại, tôi nhận được sự tin tưởng và lên làm quản lý bộ phận mua bán của phòng nghiên cứu.

OK, vậy việc dễ hơn nhiều rồi. Đúng như dự tính, với việc có được mẫu bóng đèn tiên tiến nhất thời đó trong tay, Edison lao vào nghiên cứu mà không đợi đến đầu năm 1878 như tiến trình thật. Tuy vậy, sự tăng tốc trong quá trình nghiên cứu này không hề có hại cho tôi, mà ngược lại lại còn rất có lợi nữa. Bằng việc cho ông ta tiếp cận phát minh này sớm hơn, tôi mong muốn khiến quá trình nghiên cứu phụ thuộc vào việc làm đầy bóng đèn bằng khí nitơ – một lỗi mà hai nhà phát minh người Canada đã mắc phải. Bản chất của bóng đèn sợi đốt là sự tỏa sáng do nhiệt của của sợi đốt trong đèn, và trong quá trình đó không tránh khỏi hao tổn do sự ăn mòn của sợi. Chính vì thế, việc làm chậm sự hao tổn này chính là chìa khóa cho một bóng đèn sáng lâu. Thoạt tiên, nitơ có vẻ là một lựa chọn tốt do tính trơ của khí này khi không phản ứng với phần lớn các kim loại ở nhiệt độ thường nhờ sự có mặt của liên kết ba bền vững giữa hai nguyên tử khí trong phân tử. Tuy vậy, ở nhiệt độ cao hoạt tính của nitơ tăng mạnh do nhiệt lượng đã có đủ để phá vỡ liên kết ba này, và do đó ăn mòn kim loại làm giảm tuổi thọ bóng đèn. Tiêu chuẩn hiện đại để giải quyết vấn đề này là một hỗn hợp chủ yếu là khí argon với rất ít nitơ trộn vào trong, nhưng ngay cả khi chưa phát hiện ra hỗn hợp này thì một môi trường gần chân không cũng hoạt động tốt hơn khí nitơ nguyên chất ở áp suất thường rất nhiều.

Việc này sẽ cho tôi thêm chút thời gian. Tuy vậy, cũng không thể lơ là được.

—————————————–

Để bào mòn sức chịu đựng của con người vốn nổi tiếng kiên nhẫn này, tôi cần sử dụng mọi biện pháp có thể để đánh lạc hướng ông ta khỏi thay đổi chất khí trong bóng đèn. 

Mỗi ngày, tôi xuất hiện ở phòng lab đúng hai tiếng đồng hồ tổng cộng để xử lí công việc của bộ phận mua bán, đồng thời sử dụng cỗ máy thời gian để di chuyển giữa các ngày. Nhờ đó, tôi có thể đi qua thời gian nhanh hơn rất nhiều so với người bình thường.

“Chuyện quái gì đang xảy ra vậy? Hôm nọ là dây tóc quá dày nên không thể cháy sáng được, hôm nay thì bóng đèn lại vỡ toác ra thế này! Làm sao mà có thể hoàn thành thí nghiệm cái kiểu này được!”

“Xin lỗi! Các cậu dùng cái này thử xem!”

Nhìn các nhân viên thí nghiệm cãi cọ với nhau, tôi cười thầm trong lòng. 

Đúng vậy, tôi đã trực tiếp nhờ người của mình tìm đặt mua một nguồn hàng kém chất lượng để trộn vào với nguồn hàng thật. Bóng đèn nứt, dây điện hỏng, bơm chân không rò rỉ,… tất cả đều có hết và chờ được sử dụng. 

Và chắc chắn là không ai sẽ nghi ngờ. Do mỗi thí nghiệm lỗi một kiểu khác nhau, hơn nữa không phải thí nghiệm nào cũng sai lệch. Thật dễ dàng để đổ lỗi cho quy trình.

Chỉ duy nhất có hai thứ luôn không thay đổi.

Đầu tiên, nguồn cung khí nitơ luôn dồi dào và ở chất lượng tốt nhất, đảm bảo đủ dùng cho tất cả các thí nghiệm.

Thứ hai…

“Ê, thử vật liệu khác đi!”

“OK, vật liệu gì tiếp? Ở đây có dây thép hợp kim, dây crôm, dây titan… Chọn dây nào?”

“Thế còn vonfram thì sao?”

“Có đâu? Thôi cứ thử các cái khác đi đã. Biết đâu được?”

Dây vonfram không bao giờ có. Tôi đảm bảo điều đó. Không. Bao. Giờ.

Trích đoạn nhật ký của Thomas Edison, trưởng phòng thí nghiệm Menlo Park:

Thường thì tôi làm việc ở quanh khu này và luôn sẵn sàng cho bất cứ ai cần gặp – nhưng thỉnh thoảng tôi đi một vài chuyến công việc, và khi đó những người không gặp được tôi luôn nhận được chỉ dẫn từ người trong khu là “Thầy Phù thủy Menlo Park đang đi có việc.” Gọi thế cũng vui phết đấy chứ, nhưng chắc là phải nhắc nhở mọi người không dùng cái biệt danh ấy nữa, kì cục chết đi được.

Nói thế nào thì nói, ngày hôm nay vẫn là một trong chuỗi ngày thảm họa của tôi trong nỗ lực cải tiến bóng đèn điện. Suốt hai năm qua – chuỗi thí nghiệm bóng đèn dây tóc bắt đầu từ 1875 mà nay đã là 1877 rồi – mà tình hình cũng chẳng khá khẩm lên là mấy. Xen lẫn với các lần thí nghiệm thất bại thường xuyên do vô số lý do khác nhau là các thí nghiệm dù diễn ra thành công nhưng cũng không thể nào vượt quá được 5 giờ đồng hồ chiếu sáng liên tiếp.

Liệu tôi có thiếu gì không?

Nghĩ đi, Edison. Đừng cho điều gì là hiển nhiên, hãy nghĩ đến những thứ điên rồ nhất có thể đi. Đây không phải là lần đầu tiên đúng không? Mày đã từng ngồi ấp trứng thay một con gà hồi mày chưa đi học. Mày từng làm nổ tung một đoàn tàu do thí nghiệm hóa học của mày. Gần 50 năm cuộc đời sau đó và mày có khá hơn gì không? Hẳn khả năng quan sát của mày phải khá lên chứ nhỉ?

Bình tĩnh, và suy xét từng bộ phận nào.

Tôi đã thay đổi dây tóc bóng đèn hàng ngàn lần rồi. Trong những vật liệu có tiềm năng mà tôi nghĩ ra được, có dây tóc vonfram là tôi băn khoăn nhiều nhất , cơ mà bên bộ phận mua bán cũng chưa thể nào lấy được dây tóc vonfram đủ tốt để dành cho thí nghiệm. Tuy vậy, tôi có linh cảm rằng đó không phải thứ tôi cần. Ít nhất, là bây giờ.

Hình dáng của bóng đèn cũng đã được thử nghiệm với nhiều kiểu khác nhau. Từ cặp đôi người Canada với chiếc bóng đèn dài hình tuýp, tôi đã thử hình cầu và hiện tại là hình quả lê. Tuy vậy, tôi chắc chắn rằng đó không phải yếu tố khiến phát minh của tôi thất bại.

Một điều chắc chắn nữa là không phải do nguồn điện. Nếu nguồn điện hỏng, thí nghiệm của tôi có lẽ đã thất bại ngay từ đầu. Hơn nữa, rất nhiều thí nghiệm đã đạt tới mức nhiệt độ cần thiết để duy trì sự cháy sáng của bóng điện. Không, chắc chắn không phải là do nó.

Vậy còn duy nhất khí dùng để đưa vào đèn. Nhưng nitơ là một khí trơ đúng không? Nó không phản ứng với kim loại. Vậy thì làm sao nó sai được?

Vậy mà tôi lại có cảm giác rằng nó sai. Cái linh cảm đã theo tôi suốt cả nghiệp sáng chế hàng thập kỉ qua ấy.

Vậy nếu nó sai, có lẽ tôi nên bỏ nó đi..?

***
Lại là một ngày bình thường như bao ngày khác.

Buổi sáng sớm, đến trước ca làm việc. Chào nhân viên nhập hàng qua đêm, tiễn ra về tận cửa phòng nghiên cứu luôn. Còn một mình thì kiểm tra những thùng hàng chất lượng kém người của mình đã chuyển đến. Đảm bảo nguồn khí nitơ luôn có đủ, và kiểm tra kĩ lại xem có mua vonfram hay các hợp kim của nó không.

Chưa đầy nửa tiếng sau, công việc đã hoàn thành. Mà thực ra tôi cũng chẳng lo bị phát hiện mấy. Đã hai hôm nay rồi Edison có đến phòng nghiên cứu đâu. Nghe bảo ông ta bị ốm nặng sau mấy đêm liền không ngủ sau làm thí nghiệm. Đến con trai ông ta còn không được vào cái căn phòng riêng khóa kín của ông ấy.

Thông cảm vậy. Ai bị thất bại nhiều thế chẳng stress đến chết…

Đúng lúc ấy, tiếng hò reo xuất hiện ở bên ngoài cửa phòng. Edison bước vào, hai hốc mắt của ông thâm tím, nhưng khóe môi của ông nở một nụ cười. Một nụ cười chiến thắng. Trên tay ông ta là một hòm đồ chứa đầy dây điện lằng nhằng.

“Các bạn, hôm nay tôi có chiếc bóng đèn này! Đây là một phiên bản y hệt chiếc bóng đèn tôi đang có ở nhà, tôi đã cải tiến nó bằng việc hút toàn bộ không khí ra và cho bóng đèn cháy trong môi trường chân không; và chiếc bóng ấy đã sáng suốt 3 ngày vừa qua và vẫn đang sáng tiếp… Cuối cùng chúng ta đã thành công!”

Hóa ra ông ta ở nhà suốt mấy ngày vừa qua để thử sáng chế này! Kể cả vậy, nó cũng không thể đến nhanh như thế…

Lợi dụng không khí phấn khởi của các nhân viên phòng thí nghiệm, tôi lẻn ra đằng sau, nhảy lên cỗ máy thời gian và đặt đích đến trong thời gian một tuần.

Vừa bước vào phòng thí nghiệm, tôi đã nhìn thấy trong góc phòng chiếc bóng đèn sáng vàng được bao quanh bởi các nhân viên phòng thí nghiệm. Không ai trong số họ đã về nhà trong suốt mấy ngày hôm qua.

Phải rồi, thiên tài thì vẫn là thiên tài. Tôi đã đánh giá thấp khả năng sáng chế của ông ta – của con người với hơn 1000 bằng sáng chế này. Chỉ với một khoảnh khắc lóe sáng, ông ta đã hoàn thiện nên một kì tích, bất chấp tất cả khó khăn, cạm bẫy mà tôi đã giăng ra.

Chúc mừng Edison. Ván này ông thắng.

***
Buổi sáng cái ngày ngay sau lúc mà chiếc đèn bắt đầu sáng, trên bàn làm việc của Edison xuất hiện một lá đơn nghỉ việc. Người trưởng phòng mua bán xin được rời vị trí của mình để về chăm sóc cho người nhà ở quê.

***
Mẹ ơi, lần này con lại thua nữa rồi. Thua tâm phục khẩu phục.

Tôi vừa cầu nguyện vừa suy nghĩ…

Tôi tưởng tôi đã nắm chắc phần thắng, nhưng cuối cùng lại bị đánh bại vào phút chót. Không, tôi chưa từng tác động được một chút nào tới khả năng thiên tài. Nói cách khác, tôi chưa từng có cơ hội thắng?

Vậy tại sao tôi lại cảm thấy nhẹ nhõm thế này?

Phải rồi, tôi chỉ cần cố gắng hơn nữa. Nỗ lực hơn nữa.

Trải qua ba lần, các kế hoạch của tôi đang ngày càng hoàn thiện hơn. Tôi không còn bất cẩn như các lần đầu nữa. Chắc chắn một ngày, tôi sẽ thành công.

Không. Lần sau tôi sẽ thành công.

——————————————————————————————–

After last week’s failure, I have been working on the next invention to destroy again. In front of me were two inventions of immense importance: electric light bulbs, and printing techniques.

It is difficult to choose between these two inventions. There is no need to argue: both have, in their own way, permanently changed the face of the world. With electric light bulbs, the light from them, even in their most primitive form, had completely overwhelmed the dim light from oil lamps and candles. Thanks to that powerful and abundant light source, human life has become a lot better. On the other hand, printing technology cannot be underestimated: only with it can we have books to read without having to rely on expensive manuscripts that previously only noble families can own. It is no exaggeration to say that printing technology has been the strongest catalyst for the spread of human knowledge and civilization.

However, the importance is only one factor; whether the invention is preventable or not also needs to be emphasized. The history of printing technology is a long process throughout the history of human civilization. From the early years of the first millenium, the Chinese had used woodblocks for printing. In particular, there is evidence that this technique appeared as early as 220 BC in China, in which the letters were embossed on a woodblock before the ink is applied and the woodblock is pressed onto the paper, a mechanism very similar to today’s carbon paper. In 1040, the inventor Tat Thang used separate woodblocks to simplify the printing process by arranging the letters to create a print instead of having to engrave the whole copy as before. Meanwhile, in 1439, German inventor Johannes Gutenberg combined the use of removable letters and other innovations in printing to create the first complete printer of mankind. Those are just the most important milestones – there are certainly countless other contributions in the process over that long millennium.

So there’s no stopping the printer – that invention is a process and has gradually taken shape through many small inventions without any breakthrough. So what about electric light bulbs? Its development focused primarily in the 19th century, beginning with the glowing carbon fiber of chemist Humphry Davy, to the platinum lamp of Joseph Wilson Swan, and eventually took shape after more than 5,000 famous experiments by the inventor Edison. With such a brief history of development in just one century, I am confident that I will be able to prevent this invention. Moreover, unlike previous inventors, Edison’s light bulb was the first light bulb to last long enough and therefore suitable for mass production. Certainly, without his diligence and patience, the electric light would not have formed.

That had made him, out of all people, my next target.

——————————————

Menlo Park, 1875.

With Davy’s “glowing fiber” discovery, researchers around the world have been working on an efficient electric light bulb. And this research center right here is the gathering place of all those innovations. Unlike traditional laboratories, Menlo Park is an industrial laboratory, and its owner, Thomas Alva Edison, is not only an inventor but also a talented businessman. He has also built up trust in employees with not only his conduct, but also because of the extremely good remuneration policy.

The situation is tense. Perhaps the way I bribed the employees like last time would hardly work, and the intervention from the outside will also be much less effective. Therefore, I want to become a person within the organization.

So the first thing I did was contact Henry Woodward and Matthew Evans, two Canadian inventors who had received a patent for their carbon fiber nitrogen lamp a year earlier. Over the past year, they have not been able to successfully commercialize their products, and this is my opportunity. As a matchmaker, I linked Edison’s company with the two poor inventors and asked Edison to buy back their patents. The contract went very smoothly, and only two months after, the transfer was completed, 4 years earlier than the actual historical transfer in 1879. In return, I received trust and became the manager of the purchasing department of the research center

OK, this has become so much easier. As expected, with the most advanced light bulb model at the time in his hands, Edison plunged into research without waiting until early 1878 as to how the real history went. However, this acceleration in this research process is not harmful to me; on the contrary, it is very beneficial. By giving him access to this invention earlier, I wanted to make his research process dependent on nitrogen-filled lamps – a mistake that two Canadian inventors made. The mechanics of an incandescent light bulb is basically all about the light caused by great temperature from the fiber in the lamp, and in the process it is inevitable that the wear and tear of the fiber will inevitably occur. Therefore, slowing down this loss is the key to a long-lifespan light bulb. At first, nitrogen seems to be a good choice due to the inertness of this gas as it does not react with the majority of metals at room temperature, thanks to the presence of a stable triple bond between the two gas atoms in the molecule. However, at high temperatures the activity of nitrogen increases sharply because the heat is already sufficient to break the triple bond, and thus metal corrosion will happen and reduce the bulb’s lifespan. The modern standard for solving this problem is a mixture of mostly argon gas with very little nitrogen mixed in, but even before the mixture was discovered, a near-vacuum environment would work much better than pure nitrogen gas at regular pressure.

This will give me some time. However, I simply cannot afford to be careless at any point.

—————————————–

In order to deplete the stamina of this famously patient inventor, I will need to use all possible methods to distract him from changing the gas in the light bulb.

Every day, I showed up in the lab exactly two hours in total to handle the affairs of the sales department, while using the time machine to travel between the days. Thanks to that, I was able to go through time a lot faster than normal people.

“What the hell is going on? The other day, the filament was too thick to burn, and today the light bulb cracked! How can we finish the experiment if things like this keeps happening! ”

“Sorry! You guys try this out!”

Seeing the laboratory staff quarreling with each other, I chuckled inside.

Yes, I directly asked my people to order materials of inferior quality to mix with the high-quality ones. Cracked bulbs, broken wires, leaking vacuum pumps, etc. are all available and waiting to be used.

And certainly no one will doubt. Because each error is a different type, and moreover, not every experiment is ruined this way. It’s easy to just blame the “faulty” experimental procedures.

Only two things remain always the same, however.

First, the supply of nitrogen is always plentiful and of the best quality, and is sufficient for all experiments.

Secondly…

“Hey, try another material!”

“OK, what’s next? There’s alloy steel wire, chrome wire, titanium wire … Which one to choose? ”

“What about tungsten?”

“There’s none of it! Just try the other ones. Who knows if these wires would work?”

There are absolutely no traces of tungsten in this research lab. I guarantee you that. Never. Ever.

Excerpt from the diary of Thomas Edison, head of Menlo Park laboratory:

I usually work around this area and, thus, am always available to anyone who needs to meet. Nevertheless, a few business trips occur occasionally, which by then people who cannot see me always get directions from residents in the area, “The Wizard of Menlo Park is on a business trip.” It’s quite delightful to be called that, but I probably should remind people not to use that nickname anymore: it sounds so weird.

However said, today is still one of my terrible days in an attempt to improve the light bulb. Over the past two years – the experiments on filament light bulbs have been carried out since 1875 – the situation hasn’t evolved much. Mixed with frequently failed attempts due to a variety of reasons are ones that, despite their success, cannot exceed 5 hours of continuous lighting.

Am I missing anything?

Think about it, Edison. Don’t take anything for granted, think of the craziest things you can imagine. This is not the first time, right? You used to hatch an egg on your own when you had not gone to school. You once exploded a train due to your chemical experiment. Nearly 50 years later in life, are you any better? Should you be able to observe better, shouldn’t you?

Stay calm, and consider each component.

I have changed the filament of the light bulb thousands of times already. Of the potential materials I could think of, the tungsten filament is the one I am most concerned about; however, the sales department was unable to get qualified tungsten filaments for the experiment. Nonetheless, I have a hunch that it’s not what I need. No, at least not for now.

There have also been various experiments to find the optimal shape for the light bulbs. From the Canadian couple with the long tube-shaped bulbs, I have tried the spherical ones and now the pear-shaped ones. However, I am sure that is not the factor that caused my invention to fail.

One thing that is definitely not the cause is the electricity supply. If the power supply fails, my experiments would have failed in the first place. Furthermore, many have reached the temperature required to maintain the light bulb’s combustion. No, certainly not because of it.

There only leaves us with the gas in the bulb. But is nitrogen an inert gas? It does not react with metals. So how is it wrong?

Yet I got the feeling that it was wrong: the premonition that has followed me throughout the inventing industry for decades.

So if it’s wrong, maybe I should get rid of it ..?

***
It was an ordinary day like any other day.

Early in the morning, before my shift. Greet the delivery workers who have worked overnight and send them off at the door of the research room, check. Examine by myself the containers with poor-quality materials my people had moved in, check. Make sure the source of nitrogen is always sufficient and double-checked to see if I have purchased tungsten or its alloys, check.

Less than half an hour later, the work was finished. I don’t worry much about being caught actually. Edison had not been to the lab for two days. I heard that he was seriously ill after several sleepless nights, experimenting. Even his son could not enter his locked private room.

Let’s sympathize with that poor man. Whoever fails that much would probably stress to death anyway…

At that moment, cheers arose from outside the room. Edison entered, his eyes sockets bruised, yet in the corners of his lips bloomed a smile. A winning smile. In his hand was a chest full of messy wires.

“Everyone, today I have this light bulb! It is an identical version of the light bulb I have at home, only with a deciding improvement: sucking all the air out and letting the light burn in a vacuum. In fact, that bulb has been shining for the past three days and still continues to shine. We have finally succeeded!”

It turned out he had been at home for the past few days trying this out! Even so, how come he could complete it so quickly …

Taking advantage of the excited atmosphere of the lab staff, I sneaked behind, jumped on the time machine, and set the destination a week later.

As soon as I walked into the laboratory, I saw in the corner of the room a bright yellow light surrounded by laboratory workers. None of them had been home during the past few days.

Yes, a genius is still a genius. I underestimated the capacity of his patent – a human being with more than 1,000 patents for his inventions. With just a flash, he has realized a “miracle” despite all the difficulties and pitfalls that I had set.

Congratulations to you, Edison. You have won it this time.

***
In the morning the day after the bulb began to shine, a resignation letter appeared on Edison’s desk. The head of the sales department would like to leave his position to take care of his family back in his hometown.

***
Mom, I lost again this time: absolutely defeated.

I prayed while thinking…

I thought I was sure of winning but ended up being defeated at the last minute. No, I never had any impact on his genius ability. In other words, I have never even had a chance to win?

So why am I feeling so relieved?

That’s right, I just need to try harder with further efforts.

Over three times, my plans are getting better and better. I am no longer careless like previous times. Surely one day, I will succeed.

No. I will succeed next time.

[2. Airplanes]

English

PLAN B – NO FLIGHT ZONE

Trên bầu trời xuất hiện tiếng ầm vang. Một chiếc máy bay siêu thanh vừa xuất phát từ sân bay cách nhà tôi năm cây số.

Máy bay. Phương tiện vận tải tốt nhất mà con người từng có. Với tải trọng lớn và tốc độ cao, máy bay không những tạo liên kết xuyên lục địa, mà còn hơn cả thế, thỏa mãn ước mơ được bay lượn trên bầu trời của con người. Không gì khác, đó là biểu trưng cao nhất của sự tự do – và cả sự .hỗn loạn. Bây giờ, đối tượng tôi cần nhắm đến là anh em Wilbur và Orville Wright. Thật mỉa mai khi cái thứ biểu trưng cho tự do mà các ông làm ra đã biết bao lần chèn ép chính sự tự do của bao người dân vô tội – từ những chiếc máy bay ném bom đem đến nỗi ám ảnh hàng thế hệ, tới đám máy bay khổng lồ nhấp nháy những bóng đèn nhân tạo trong đêm át đi cả ánh sao thanh thuần, đẹp đẽ. Nếu tôi ngăn cản được phát minh này, có lẽ tôi còn có thể ngăn cản tiến trình văn minh loài người còn hiệu quả hơn cả kế hoạch trước đây.

Phấn khích – đó là từ duy nhất có thể mô tả chính xác tâm trạng tôi lúc này. Kế hoạch lần thứ hai quả thật tốt hơn hẳn, viễn cảnh thành công tưởng chừng như gần đến mức nó gợi trong lòng tôi những rạo rực, bồn chồn.

Bạn có thể thắc mắc tại sao tôi không đặt mục tiêu là ông tổ của ngành hàng không – những chiếc khinh khí cầu và dù lượn cuối thế kỉ 19 ư? Chỉ đơn giản là các khinh khí cầu thời đại đó – kể cả của Zeppelin – đều không lý tưởng. Chúng quá to xác, chậm chạp, và phụ thuộc thời tiết. Đến thứ nhiên liệu chúng sử dụng, khí hydro, cũng chính là con dao hai lưỡi đã thẳng tay xóa sổ vị thế của những tên khổng lồ này trong ngành giao thông vận tải. Ôi! Hàng chục, thậm chí là hàng trăm túi hydro trên một chiếc khinh khí cầu – cái thứ khí dễ cháy mà người ta còn dùng làm nhiên liệu tên lửa ấy – chỉ cần một sai sót nhỏ thôi là đủ thiêu đốt (theo nghĩa đen) thời đại huy hoàng của Zeppelin thành cát bụi. Sự thiếu ưu việt của chúng chẳng đáng để tôi bỏ công đi “phá hoại” thứ nhiều nhà phát minh cùng nghiên cứu và thử nghiệm đến thế. Việc máy bay nặng hơn không khí là một bước nhảy vọt hoàn toàn vĩ đại – cho phép tải trọng lớn, tốc độ cao, và kích thước nhỏ gọn – biến chúng trở thành vị vua tuyệt đối của bầu trời trong ngành vận tải và quân sự, thậm chí những người từ thế kỷ XXI đã coi đám khí cầu chỉ như món đồ trang trí hay trò tiêu khiển.

Hồi xưa, tôi vẫn thường tự hỏi máy bay hoạt động như thế nào… Giờ nhớ lại thật khó.

Tôi mở sơ đồ chiếc máy bay Flyer 1 ra. Có vẻ như chế tạo nó là một quá trình đầy gian nan. Trước hết họ đã tập trung vào việc điều khiển và lượn – chế tạo và cải tiến cánh, đuôi, bộ điều khiển từ 1900 đến 1902, rồi cuối cùng đưa thêm động cơ vào năm 1903. 

3 năm phát triển và chế tạo, thêm 2 năm nữa để có một chuyến bay mượt mà. Tất cả sẽ quay về con số 0 tròn trĩnh chỉ với vài ngày cố gắng của tôi mà thôi. Nhưng lần này phải lên kế hoạch cẩn thận hơn. Và rèn luyện một tinh thần thép, một ý chí sắt đá.

Về cơ bản, dòng khí do gió hoặc động cơ thổi bay qua cánh sẽ tạo nên lực nâng nhờ có độ cong, khum của cánh. Lực nâng này chống lại trọng lực, giữ máy bay trên không. Động cơ còn có tác dụng đẩy khí ra phía sau, từ đó nhận lực đẩy máy bay về phía trước (Định luật 3 Newton), chống lại lực cản không khí (cũng giống như bạn phải đạp xe mạnh để chống lại gió vậy).

Sau khi đã nắm được những thông tin cơ bản, tôi liền dùng Cỗ máy thời gian trở về năm 1902 để theo dõi các thí nghiệm trên tàu lượn của anh em Wright. Theo lịch sử ghi chép thì đây là lúc họ tìm ra cơ cấu điều khiển máy bay. Thú vị đây.

***

Tháng 9 năm 1902.

Cỗ máy xoay mấy vòng rồi đáp xuống phịch một cái. Gì thế này? Ôi trời! Người tôi ngập trong cát! Cố nín thở, tôi tìm cách ngoi lên mặt đất. Được rồi! Suýt chết. Phải sửa ngay cái máy mới được, tăng độ chính xác trong thăm dò địa hình. Tôi thở một hơi rõ dài, nhìn quang cảnh xung quanh. Trời ạ, toàn cát với cây bụi. Không gian trống trải, lộng gió, tạo cảm giác thật vắng vẻ và cô đơn. Không một bóng nhà máy, ô tô, hay xưởng cơ khí. Đây không thể là nơi bắt đầu của thứ sẽ thay đổi thế giới được. Cái máy trời đánh này đã cho tôi ăn cát lại còn đưa sai địa điểm nữa sao? Mi đáng bị đá một cái đấy… Có tiếng người! Vội núp sau một đụn cát, tôi cố dỏng tai lên nghe ngóng. Hoá ra chính là anh em Wright bên cạnh chiếc tàu lượn của họ, và đây là Kitty Hawk, một làng chài nhỏ bên bờ Đông nước Mỹ. “À, hóa ra mi vẫn còn đúng địa điểm, may cho mi đấy” – tôi nhủ thầm. 

Tôi nhanh chóng tham gia đội cứu hộ làng, và nhờ đó được “trợ giúp” anh em Wright. 

Chìa khoá cho việc bay nằm ở các dòng khí đi qua cánh máy bay (tạo ra cả lực nâng và lực cản). Các dòng khí đi như thế nào lại phụ thuộc vào hình dạng cánh, và cả tốc độ khí nữa. Nói đơn giản thì, dòng khí phía trên cánh chảy nhanh hơn dòng khí bên dưới, nên áp suất đẩy xuống nhỏ hơn áp suất đẩy lên (theo phương trình Bernoulli), tạo lực nâng.

Tối hôm đó, tôi có cơ hội được xem xét chiếc tàu lượn kĩ hơn khi hai anh em họ lui vào trong lều nghỉ. Tôi chiêm ngưỡng kĩ hơn đôi cánh vải khum khum uốn mình theo những thanh gỗ mảnh dẻ, kết quả của những thí nghiệm ống gió tìm hình dạng cánh cho lực nâng và lực cản tối ưu, cùng với đôi cánh trước nhô ra như chiếc mỏ dẹt của loài chim, và những sợi dây nối đủ loại bộ phận khác nhau không sai một ly. Tôi chợt thấy một cảm xúc khác trong lòng mình. Gì vậy nhỉ? Một cỗ máy thật đơn sơ, chân phương, nhưng có lẽ đó lại chính là vẻ đẹp độc đáo của riêng nó. Thật hoài cổ. Một loạt hình ảnh hiện lên trong trí óc tôi: những buổi vẽ tranh với mẹ giữa núi rừng hoang sơ, với cánh chim vút lượn giữa bầu trời trong xanh những tầng mây trắng, và cả… những cỗ máy hào nhoáng mà xấu xí thời hiện đại. Hình ảnh cuối làm tôi sực tỉnh. Hậu duệ của cỗ máy đẹp đẽ này sẽ phá hủy tương lai loài người. Tôi không thể để mình rơi vào cái bẫy của sự hoàn mỹ giản đơn này được. 

Việc điều khiển máy bay là cực kỳ quan trọng cho một chuyến bay an toàn. Máy bay ngày nay thay đổi hướng theo 3 trục: yaw, pitch, roll. Pitch là việc ngóc/chúc đầu của máy bay sử dụng cánh lái độ cao (elevators), yaw là xoay máy bay theo phương ngang, roll là quay nghiêng máy bay quanh trục thân.

A, phải rồi. Kí ức trở về thật đúng lúc. Anh em Wright chính là những người đầu tiên nghĩ ra hệ thống này, cả về mặt khái niệm và kỹ thuật để giải quyết vấn đề điều khiển máy bay. Đây có lẽ là điểm quan trọng nhất trong phát minh của họ. Và tôi sẽ phá hủy nó.

Vào việc thôi. Tập trung vào nhiệm vụ trước mắt, không suy nghĩ linh tinh gì nữa.

Anh em Wright đã chọn cách làm cong cánh hai bên (bằng động tác đẩy hông!) theo hai hướng khác nhau để làm máy bay nghiêng để đổi hướng. Tuy vậy, sự chênh lệch lực cản giữa hai bên cánh sẽ xoay ngang máy bay. Vì vậy, họ nối bộ điều khiển hông (cái tên này nghe hay đấy) với một cái đuôi dựng đứng có thể bẻ sang 2 bên, để loại trừ chuyển động không mong muốn này. Vậy thì, cái sự thô sơ đẹp đẽ kia hóa ra tốt cho tôi thật. Chỉ mất một lúc để tôi tráo vị trí các dây nối. Thế là chiếc đuôi sẽ không giải quyết vấn đề mà còn làm nó tệ hơn. Anh em Wright sẽ bỏ nó đi, và máy bay sẽ không được phát minh nữa.

À thì, tôi đã đánh giá thấp khả năng quan sát của anh em họ. Buổi thử nghiệm đó đúng là gây tức tối – mỗi khi anh em họ muốn rẽ máy bay sang bên nào, nó đều lập tức quay sang hướng ngược lại. Có những lúc hai người chẳng kịp trở tay, chiếc máy bay suýt rơi và họ cũng suýt xong đời. Tôi (trong vai thành viên đội cứu hộ) đề xuất, “Hôm nay tàu lượn bay tệ hơn các hôm trước. Chắc là sự chỉnh sửa của các anh không hoạt động rồi. Bỏ đi thôi.” Nhưng họ hoàn toàn tự tin vào nguyên lý của bộ phận đuôi này, quyết tâm tìm cách sửa chữa, và rồi họ đã tìm ra lỗi sai.

Cuộc sống mà. Tôi cũng không ngờ là họ có niềm tin sắt đá như thế. Thôi thì, thua keo này ta bày keo khác.

***

Năm 1903

Lần này tôi phải thành công. Không thể trông chờ họ bỏ cuộc vì gặp khó khăn kĩ thuật được, phải lên kế hoạch triệt để hơn. Tôi sẽ đưa họ từ lo lắng đến hi vọng, chỉ để đẩy họ quay về hố sâu tuyệt vọng.

Đầu tiên tôi cần tiền. Chẳng khó gì lắm, chỉ cần bán những phụ kiện hay ho nhưng vô hại của thế kỷ 22 cho mấy thương gia tròn xoe mắt, tôi đã có đủ tiền cho kế hoạch. Số tiền ấy rơi một cách hoan hỉ vào hầu bao tất cả những nhà sản xuất động cơ lớn ở Đông Bắc nước Mỹ, và giờ sẽ chẳng có ai sản xuất động cơ cho anh em nhà Wright. Sự thật phũ phàng về đồng tiền là vậy, chưa bao giờ đổi thay. Kết quả là họ tốn biết bao thời gian để liên hệ với các nhà sản xuất mà chẳng có kết quả gì. Tôi gần như có thể thấy sự lo lắng, hoang mang hiện lên trên vẻ mặt họ lúc bây giờ. Chắc hẳn hai nhà phát minh tội nghiệp kia đang nghĩ không ai ủng hộ nghiên cứu của mình. Tuyệt lắm!

Rồi tôi tìm và mua chuộc một thợ cơ khí làm việc cho anh em họ, vì thể nào họ cũng phải nhờ tới anh chàng này. 

“Một lỗi kĩ thuật ư, thưa ông? Động cơ đốt trong đã được phát minh từ những năm 1870, hiện đã được phổ biến rồi, không thể giả vờ là quy trình kỹ thuật có vấn đề được!”

“Anh bạn ạ, nghe tôi này…”

Sau cuộc gặp đó, để cho chắc, tôi đảm bảo không thể đặt hàng lượng sắt anh em Wright cần trong thành phố Dayton. Tôi khá chắc hai anh em sẽ chế cho chiếc máy bay này một động cơ bằng sắt như biết bao động cơ cùng thời mà thôi. Nhưng đến khi tôi nghe lỏm họ nói chuyện, thì… Trời ơi! Ai mà biết được hai anh em họ dự định dùng nhôm cơ chứ. “Cần một động cơ nhẹ hơn 200 pound (91kg) mà đủ khoẻ (8-10 mã lực). Nếu động cơ nặng, trọng lực tác dụng lên máy bay sẽ quá lớn, máy bay sẽ không thể bay lên được…” Cú lừa rồi, hy vọng vào chàng thợ cơ khí thôi.

***

Sau 6 tuần làm việc và một thời gian thử nghiệm, anh em Wright đã hài lòng với chiếc động cơ. Tháng 12, tôi theo họ quay lại Kitty Hawk mà lòng đầy thấp thỏm. Trước khi lắp ráp chiếc Flyer I, họ kiểm tra lần cuối tất cả các bộ phận. Tối hôm đó tôi lẻn vào sát lều của họ để nghe cuộc trò chuyện.

“Không ổn rồi, Wilbur ạ. Chiếc động cơ có vấn đề rồi. Khó tin, nhưng chắc chắn là vậy.”

“Phải, 2 xi lanh quay ngược chiều kim đồng hồ, còn 2 xi lanh quay thuận!”

“Ra ngoài suy nghĩ đi. Gió, trăng, và sao sẽ giúp đầu óc chúng ta thông thoáng hơn.”

Tôi lẩm bẩm, “Lần phá hoại này thành công rồi!” Đúng lúc đó họ bước thẳng ra ngoài, nhìn thẳng vào người tôi. 

Sự im lặng kéo dài đến độ mười giây.

“Anh là ai, tại sao anh lại ngồi ngay trước lều của chúng tôi? Và câu nói vừa rồi của anh là sao?”

Hết sức bối rối và hoảng hốt, tôi cà lăm vài từ “À thì… tôi muốn biết tiến độ các anh thế nào…”

Gió lặng, họng tôi đắng ngắt, còn hai người kia chằm chằm nhìn tôi với nỗi ngờ vực ngày càng tăng.

“Anh đã phá cái gì? Chính là động cơ của chúng tôi phải không?”

Hít một hơi sâu. “Anh nói gì vậy tôi không hiểu? Tôi phá cái gì chứ?”

“Tại sao anh lại làm thế? Anh muốn gì?” Orville nắm lấy cổ áo tôi.

Trong lúc đó, Wilbur ngớ người ra.

“Phải rồi, Orville! Đơn giản thôi. Không dùng một bánh răng chung cho cả 4 xi lanh nữa. Tách ra làm 2 bánh răng, một truyền động cho cánh quạt trái, cái còn lại cho cánh quạt phải.”

Orville cũng giật mình, “Có thế thôi mà sao không nghĩ ra nhỉ?”

Nhân cơ hội đó, tôi vùng chạy. Quay về tương lai thôi, hỏng bét rồi!

“Bắt lấy hắn! Hắn đang chạy ra bãi biển!”

Tôi biến mất sau cồn cát, ra khỏi tầm mắt những kẻ truy đuổi. Tuy nhiên, cỗ máy thời gian đang ở quá xa. Nhưng rồi tôi chợt nhớ ra, mình có công nghệ của thế kỷ 22 mà nhỉ? Bấm nút một cái, cỗ máy vút tiến về phía tôi. Tôi nhảy lên, khởi động máy và trở lại tương lai.

***

Mẹ ơi, một lần nữa con lại thất bại. Nhưng lần này không phải do dao động tâm lý, mà là do sự kém cỏi về mặt kỹ thuật của bản thân con và sự khéo léo của anh em nhà Wright. Xin mẹ tha thứ cho đứa con bất tài này… Con biết mình không nên lấy nỗi nhớ mẹ hay mong muốn trả thù cho mẹ để biện hộ cho những hành động chủ quan của mình. Nhưng con thật sự muốn có thể nhanh chóng thành công để gặp lại mẹ một lần nữa càng sớm càng tốt, và sự nóng vội ấy đã khiến con vô tình đánh giá quá thấp kẻ thù. Nếu con chịu khó nghiên cứu, học tập và rèn luyện tốt hơn, có lẽ mẹ đã có thể ở bên con ngay lúc này…

***

Chẳng có nhiều thời gian đến vậy để u sầu hay tự trách, tôi cần một kế hoạch mới – một mục tiêu mới, ngay lập tức. Thành công phải đến trước khi ai đó phát hiện điều tôi ấp ủ và hoàn toàn chấm dứt nó. Tuy nhiên, chiến thuật “đánh nhanh thắng nhanh” đang không cho thấy sự khả quan. Phải kiên nhẫn, lật đổ một nền khoa học được hàng tỷ người gây dựng suốt mấy nghìn năm không phải là chuyện “một sớm một chiều”, và chẳng dễ gì ý tưởng từ một kẻ thiếu hiểu biết về lịch sử khoa học như tôi lại là ý tưởng tốt nhất. Đúng vậy, tôi cần tìm kiếm một mục tiêu tốt hơn – không chỉ dựa vào cảm hứng hay suy luận của chính mình mà kết luận dựa vào sự nghiên cứu thống kê kỹ càng. Bắt đầu thôi, việc này sẽ mất thời gian đây…

***

Chú ý: các bạn có thể xem video sau, một giải thích rất dễ hiểu và trực quan về khía cạnh vật lý của chiếc Flyer I

(Một số phần cần biết kiến thức về momen động lượng, hơi nâng cao)

—————————————————————————

There was a loud engine noise echoing from the sky. A supersonic plane just took from the airport five kilometers from my house.

Planes. The best means of transport people had ever had. With high payload and excellent speed, planes not only created intercontinental connections but also, more than just that, realized humanity’s dream of flying high in the sky. They are the ultimate icon of both freedom and chaos. My obvious targets are now the Wright brothers. It’s such an irony how the symbol of freedom they had made later crushed the freedom of so many innocent people countless times – from bombers that have haunted generations of people to giant planes flashing artificial lights at night that outshine even the purest and most beautiful stars. If I could destroy this invention for good, I might be able to delay the human civilization process even more effectively than previously planned.

Excitement – it’s the only word that can accurately describe my mood right now. The second plan was much better indeed, the vision of success seemed so close that it evoked a sense of uneasiness in my heart.

You might wonder why I wasn’t aiming for the “ancestor” of the aviation industry: hot air balloons and paragliders in the late 19th century? The reason was simple: gas balloons of that era – including Zeppelin’s – were not ideal. They are too big, slow, and dependent on the weather. The fuel they use, hydrogen gas, was the double-edged sword that had mercilessly eliminated these giants’ names in the transportation industry. Oh dear! Dozens – even hundreds – of bags of hydrogen, the flammable gas that people sometimes use as rocket fuel, were equipped in a hot air balloon. Just one small mistake could (literally) burn the glorious era of Zeppelin into dust. Their lack of superiority was not worth the effort to “sabotage” so many inventors who had done numerous researches and tests on them. The fact that planes are heavier than air was absolutely a great leap – allowing large payloads, high speeds, and compact designs. Thanks to it, planes were crowned as the supreme king of the sky in transport and military. In fact, even people from the twenty-first century had regarded air balloons as decorations or pastimes.

In the past, I used to wonder how airplanes worked … Now, it’s hard to remember.

I opened the diagram of the Flyer 1 aircraft. Making it seemed like a really difficult process. They first focused on controlling and gliding: making and refining wings, tails, controllers from 1900 to 1902, and eventually adding more engines in 1903.

3 years of development and manufacturing, another 2 years to have a smooth flight. All would return to a complete zero with just a few days of my effort. But this time, I had to plan more carefully, keep the nerves of steel, and determine until the end.

Basically, the airflow blown by wind or engines through the wings will create lift due to the wings’ curve and camber. This lift resists gravity, keeping the aircraft in the air. Engines also work to propel the gas backward, thereby taking the force to push the aircraft forward (Newton’s Third Law), against air resistance (just like how cyclists have to pedal hard to resist the wind).

After learning the basics, I immediately used the Time Machine to travel back to 1902 to track the Wright brothers’ roller coaster experiments. According to historical records, this was when they found the aircraft’s control mechanism. Hmm, interesting…

***

September 1902.

The machine spun several times and then landed on the ground. What was this? Oh my goodness! My body was covered in sand! Trying to hold my breath, I struggled to climb up to the ground. Finally! That was close. This machine needed some proper repair: increasing accuracy in topographic exploration. I took a deep breath and looked around. Man, all sand and shrubs. It was empty, windy, secluded, and lonely. Not a sign of any factory, car, or mechanical workshop. There was no way this was the start of something that would change the world. Did this stupid machine not only feed me sand but also take me to the wrong place? You deserved a kick, my friend… Wait, there were people! Hiding behind a dune, I tried to prick up my ears. They turned out to be the Wright brothers, just next to their roller coaster. So this was Kitty Hawk, a small fishing village on the East Coast of America. “Well, it turns out you’re still in the right place, lucky for you” – I told myself.

I quickly joined the village rescue team and, thanks to that, had the chance to “help” the Wright brothers.

The key to flying lies in the airflow that passes through the wing (creating both lift and drag). How the air flows depends on the wing’s shape and the air’s speed. Simply put, the airflow above the wing flows faster than the under; thus, the downward pressure is smaller than the upward pressure (according to Bernoulli equation), which creates lift.

That night, I had the opportunity to examine the roller coaster more closely as the two brothers ​​took a rest in their tent. I observed more carefully the cambered cloth wings curling into slender slats – the results of wind tunnel experiments to figure out the wing shape for optimal lift and drag, the front wings protruding like a bird’s flat beak, and the wires precisely connecting all sorts of different parts without a glass. I suddenly felt a strange emotion arising in me. What was it? A simple and authentic, but perhaps for that, uniquely beautiful machine. How nostalgic. A series of images came to my mind: painting with mom in the pristine mountains with soaring birds in the clear blue sky and white clouds, and even…flashy yet hideous modern machines. The last image woke me up. Descendants of this wonderful machine will destroy the future of humanity. I could not let myself fall into the trap of this simple perfection.

Flight control is extremely important for a safe flight. Today’s aircraft change direction in 3 axes: yaw, pitch, roll. Pitch is the tilt/tip of an airplane using elevators. Yaw is to rotate the plane horizontally, while roll is to tilt the plane around the fuselage axis.

Ah, that’s right. Memories came back at the right time. The Wright brothers were the first to invent this system, both conceptually and technically, to solve the problem of aircraft control. This was probably the most important detail in their invention. And I would destroy it.

Let’s do this. Focus on the task at hand, no more getting distracted by thoughts.

The Wright brothers opted to bend the side wings on either side (by sliding their hips!) in two different directions to make the plane tilt and consequently change direction. However, the difference in drag between the wings would horizontally rotate the plane. So they connected the hip cradle (cool name right there) to an upright tail that can be bent to the sides, eliminating this undesirable movement. And that beautiful rudeness turned out to be really beneficial to me. It only took me a moment to switch the positions of the wires. Just like that, and the tail would not solve the problem but make it worse. The Wright brothers would abandon it, and the plane would never have been invented.

Well, I underestimated the brothers’ observation abilities. That test was frustrating – whenever they wanted to turn the plane to one direction, it immediately turned in the opposite direction. There were abrupt times the plane almost fell and took away their lives. I (as a rescue team member) suggested, “Today’s roller coaster is worse than the previous days. Probably your change is not working. Forget it.” But they were completely confident in the principle of this tail and determined to find a way to fix it. In the end, they found a mistake.

C’est La Vie. I did not expect them to have such conviction. Well, better luck next time I guess.

***

The year of 1903

I had to succeed this time. It was impossible to expect them to give up because of technical difficulties. Have to plan more thoroughly. I will take them from worry to hope, only to push them back into the pit of despair.

First of all, I needed money. It’s not that difficult. Just selling the cool but harmless accessories of the 22nd century to those gullible merchants had provided me enough money for the plan. That money “happily” fell into almost every wallet of major engine manufacturers in the Northeastern United States, and now no one would produce engines for the Wright brothers. That’s the harsh truth about money, and it has never changed. As a result, they spent a lot of time contacting the manufacturers yet received no response. I could almost see anxiety and bewilderment appearing on their faces now. Surely those two poor inventors were thinking that nobody supported their research. Great!

Then I found and bribed a mechanic to work for them since they had to ask for his help sooner or later.

“A technical error, sir? Internal combustion engines invented since the 1870s are now popular. You cannot pretend that there is a problem in the technical process! ”

“My friend, listen to me …”

After that meeting, just to be safe, I made sure the Wright brothers couldn’t order the amount of iron they needed in Dayton. I was positive these two would give this plane an iron engine like so many engines of their time. But when I overheard them talking, then … Oh my gosh! Who knows they had ​​planned to use aluminum. “We need an engine lighter than 200 pounds (91 kg) that is strong enough (8-10 horsepowers). If the engine is heavy then the force of gravity on the plane will be too great and the plane will not be able to fly …” I was fooled; my only hope now was the mechanic.

***

After 6 weeks of work and a trial period, the Wright brothers were satisfied with the engine. In December, I, filled with anxiety, followed them back to Kitty Hawk. Before assembling the Flyer I, they had final checks of all parts. That night, I sneaked up next to their tent to eavesdrop the conversation.

“Not good, Wilbur. The engine has a problem. Hard to believe, but certainly. ”

“Yes, 2 cylinders spin counterclockwise, and 2 cylinders spin clockwise!”

“Let’s go out to think. Wind, moon, and stars may help clear our minds. ”

I muttered, “This sabotage is successful!”. At that moment they walked straight out, staring right at me.

The silence lasted for about ten seconds.

“Who are you, why are you sitting right in front of our tent? And what have you just talked about? ”

Completely confused and panicked, I stumbled a few words “Well… I just want to know how you guys progress…”

The wind was still. My throat was bitter. And the other two stared at me with increasing suspicion.

“What did you sabotage? Is that our engine? ”

Take a deep breath. “I don’t understand what you are saying. What did I sabotage? ”

“Why did you do that? What do you want?” Orville grabbed me by the collar.

Meanwhile, Wilbur froze.

“That’s right, Orville! It was simple. Do not use one common gear for all 4 cylinders. Split into 2 gears, one for the left fan, the other for the right one. ”

Orville was also startled, “Only that! How come we couldn’t think of it?”

Using that opportunity, I ran away. Back to the future! The plan had failed!

“Catch the man! He is running to the beach! ”

I disappeared behind the dunes, out of sight of the chasers. However, the time machine was too far away. But then I remembered: I had the 22nd-century technology, right? With just a button, the machine swung towards me. I jumped up, started the engine, and returned to the future.

***

Mom, I failed again. But this time it was not because of emotions, but because of my own technical inadequacy and the Wright brothers’ ingenuity. Please forgive this incompetent child … I know that I should not use my longing for you or my wish to avenge on behalf of your death to justify my subjective actions. But I really want to be able to succeed immediately to see you again as soon as possible, and that impatience has made me negligently underestimate my enemies. If I had done better research, study, and training, I might have been with you right now …

***

There was not that much time to be melancholy or self-blaming. I need a new plan – a new target, NOW. Success must come before someone found out my purpose and ended it. However, the speed strategy was not showing profits. Patience was needed. Destroying the science built by billions of people over thousands of years is not a short-term goal, and the best idea doesn’t seem to come out from someone with little knowledge of scientific history like me. Exactly, I need to find a better target – not just based on my own inspiration or deduction but a conclusion of careful statistical research. Let’s do this, it would take some time…

Note: you can watch the following video – a very simple and intuitive explanation of the physical aspect of the Flyer I:

(Some parts requires knowledge of angular momentum to understand, which is slightly advanced)

[1. Penicillin]

English

Hừm, có quá nhiều cách để bắt đầu kế hoạch này. Tôi có thể đi về quá khứ xa xôi nhất và đập tan cái thành trì vĩ đại mang tên “khoa học” kia ngay từ nền móng. Nhưng cỗ máy thời gian chỉ vừa mới hoạt động, không thể mạo hiểm đi quá xa được, chẳng có gì đảm bảo kế hoạch sẽ thành công ngay lần đầu tiên, và những hệ quả của việc thay đổi quá khứ sẽ khó lường trước hơn nhiều nếu tôi làm như vậy. Cần một kế hoạch cẩn trọng hơn thế. Chậm mà chắc. Dù sao trong trận chiến khốc liệt này, thời gian đứng về phía tôi.

Hơn nữa, cuộc sống của nhân loại vẫn luôn phụ thuộc quá nhiều vào những phát minh khoa học, đến mức chỉ cần một phát minh quan trọng “bốc hơi” khỏi lịch sử là đủ sức thay đổi số phận của hàng trăm triệu người… Một ý nghĩ vụt sáng. EUREKA! Y HỌC! Đúng vậy, đáng lẽ tôi phải nghĩ đến nó ngay từ đầu chứ! Con người đã và đang sống quá lâu với sự ngu ngốc của mình, và cả với tốc độ sinh sản điên rồ ấy nữa. Chỉ cần tôi tìm được một phát minh y học đủ sức ảnh hưởng, và đồng thời, có một hoàn cảnh ra đời “ngớ ngẩn” đến mức việc nó chưa bao giờ tồn tại sẽ hoàn toàn hợp lý. Phần còn lại chỉ cần tin tưởng vào sự thiếu kiên nhẫn của nhân loại, họ sẽ dừng nghiên cứu một khi không thu được kết quả nào khả quan. Ít người hơn, sự đô thị hóa hẳn sẽ bị chậm đi vài chục năm, thậm chí cả thế kỷ, ít nhất là đủ lâu để tôi có thể được nhìn thấy mẹ già đi bên cạnh mình, trên những bãi cỏ xanh, giữa cánh rừng bạt ngàn sự sống…. 

Kết hợp tất cả các yếu tố từ khả năng, sự phát triển đến thời gian đích, tôi đã tìm được mục tiêu hoàn hảo cho mình: Penicillin – kẻ mở đường cho y học thế giới. Đúng vậy, chính là thứ thuốc kháng sinh được mệnh danh là “thần dược” của thế kỷ 20. Được coi là một trong những họ thuốc được phát triển rộng rãi nhất, Penicillin đã đem đến hiệu quả chưa từng thấy trong lịch sử đối với các vi khuẩn Gram dương, trong đó bao gồm nhiều vi khuẩn nguy hiểm như bệnh lậu, viêm phổi hay viêm màng não (loại nguy hiểm và dễ gây tử vong hơn gây ra bởi vi khuẩn chứ không phải virus như nhiều người lầm tưởng). Phát minh đem lại cho Alexander Fleming giải Nobel Y học cùng với danh tiếng là người khơi mào cuộc “cách mạng kháng sinh” trong lịch sử ngành Dược hai trăm năm về trước, bây giờ – hay nói đúng hơn là, rất lâu sau khi nhân loại biết rằng nó tồn tại – sẽ giúp tôi bắt đầu một cuộc cách mạng hoàn toàn mới – cuộc cách mạng xóa bỏ nền khoa học của toàn nhân loại.

Tôi đã sẵn sàng.

“Đích đến đã được xác nhận: 2 tháng 9 năm 1928, London. Chuẩn bị đi vào liên không gian – thời gian.” – Âm thanh vang vọng từ bộ điều khiển làm tôi rùng mình vì những điều mà mình sắp thực hiện, và những hậu quả có thể xảy ra, bất kể đó là gì.

Xin lỗi nhé Fleming. Có lẽ ông vốn dĩ không nên tìm ra nó ngay từ đầu.

——————–

London, 2 tháng 9 năm 1928.

Cỗ máy thời gian đưa tôi vào một con hẻm nhỏ, tối và ẩm ướt. Sau khi kiểm tra một lúc lâu để chắc chắn mình không bị theo dõi bởi một tên cảnh sát thời gian nào đó (cẩn thận vẫn hơn), tôi nhanh chóng hòa mình vào dòng người tấp nập trên con đường chính.

Quả không hổ danh là trung tâm thương mại hàng đầu của thời ấy! London cuối thập niên XX ồn ã, nhộn nhịp, và khẩn trương, thậm chí có phần choáng ngợp so với tưởng tượng ban đầu của một kẻ chỉ học về nó qua sách vở. Trên những con đường chính, các mẫu xe ô tô mới nhất của Ford đang lăn bánh. Ở cầu cảng trên sông Thames, thuyền bè, hàng hóa ra vào, nhưng những tiếng còi tàu vang vọng bị lấn át bởi tiếng của hàng ngàn người đi đường. Người mua kẻ bán tấp nập trong những con chợ. Có vẻ như dù mới chỉ qua nửa năm sau trận lụt lịch sử đầu tháng 1 năm 1928, nhưng thành phố đã hồi sinh lại bộ mặt thường ngày của nó.

Kế hoạch là đột nhập vào phòng thí nghiệm vào rạng sáng mai, nên tôi vẫn còn chút thời gian dư dả từ giờ đến lúc đó để ghé thăm đài thiên văn Hoàng gia Greenwich – nói cho cùng, kể cả kẻ không ưa khoa học như tôi cũng phải công nhận rằng ngắm sao ở đài thiên văn là một thú vui “gây nghiện”. Tôi chẳng còn nhớ đã bao lâu rồi mình không được nhìn ngắm bầu trời đêm một cách tử tế, ít nhất cũng phải từ lúc họ lôi tôi lên cái thành phố bụi mù và ô nhiễm ánh sáng kia, nơi ánh sao chẳng thể đọ được với đống bảng quảng cáo diêm dúa và đèn từ các tòa chung cư chọc trời.

Lúc tôi đến nơi thì đã xế chiều. Đứng trên đỉnh đài thiên văn, tôi phóng mắt ra khung cảnh công viên Greenwich. Đằng xa, trên đỉnh ngọn đồi phủ cỏ xanh, một thân cây cổ thụ xanh ngát tỏa bóng. Khung cảnh vừa lạ lẫm vừa thân quen ấy như mở khóa dòng ký ức tràn về ồ ạt trong tâm trí: cũng trên một ngọn đồi với bãi cỏ xanh, dưới bóng mát của tán lá nơi thiên nhiên che chở, mẹ từng cầm tay tôi hướng dẫn những nét vẽ đầu tiên, lưu giữ lại những thanh bình, giản dị tưởng chừng như kéo dài mãi mãi. Tôi chắp hai tay trên ngực và cầu nguyện:

“Cầu xin mẹ phù hộ cho con trai của mẹ đạt được ước nguyện. Chỉ một chút nữa thôi, và cuộc sống vui tươi xưa kia của chúng ta sẽ có thể trở về như cũ.”

Một đêm nữa thôi.

———————

Đêm, rạng sáng ngày 3 tháng 9.

Tôi đang đứng trước cửa khu nhà thí nghiệm của Fleming.

Hôm nay, đóng giả một viên thanh tra vệ sinh, tôi mang theo bên mình duy nhất một khẩu súng lục đề phòng trường hợp khẩn cấp nhưng không hề có ý định dùng nó. Thẻ nhân viên và phù hiệu giả là đủ để giúp tôi câu giờ để chuồn khỏi bất kỳ tình huống bất trắc nào. 

Chưa đầy ba mươi phút sau, tôi đã đột nhập thành công vào phòng thí nghiệm – những cánh cửa năm 1928 không là gì đối với công nghệ đột nhập của thế kỷ XXII. Chất đống lên trên băng ghế của căn phòng thí nghiệm bừa bộn là những mẫu tụ cầu khuẩn đang được nghiên cứu. Tôi giơ súng lên và ngắm thẳng vào chồng mẫu thí nghiệm ấy. Một phát súng nữa thôi và mẫu penicillin đầu tiên nằm trong chồng mẫu đó sẽ vụn thành từng mảnh.

Đúng lúc đó…

“Thưa quý ngài, quý ngài làm gì ở đây vào rạng sáng thế này?”

Đó là Alexander Fleming. 

Chết tiệt, tính toán của tôi đã sai ở đâu đó. Bối rối, tôi ngay lập tức chĩa thẳng nòng súng vào ông ta, tình cờ làm đổ một số mẫu. Úi.

“Ông làm gì ở đây?”

“Đây là phòng thí nghiệm của tôi, thưa quý ngài. Có lẽ câu hỏi đó phải là tôi hỏi quý ngài mới đúng. Ngài cần gì trong đống mẫu nghiên cứu này?” – Ông ta bình tĩnh hơn tôi tưởng.

“Không được cử động, và đừng nói gì hết. Đưa toàn bộ số mẫu tụ cầu khuẩn ông có ở kia cho tôi. Tôi muốn vứt bỏ chúng.”

“Đó là tất cả những gì quý ngài muốn sao? Được thôi: đó chỉ là vài chục trong số các mẫu tụ cầu khuẩn mà tôi bảo quản. Nếu quý ngài lấy đi, tôi vẫn còn mẫu khác thay thế. Tôi không thấy các mẫu mà quý ngài định lấy đi có gì quá quan trọng.”

Không, nó rất quan trọng đấy. Chỉ là ông không biết thôi, Fleming ạ. Một trong số chúng sẽ đưa ông trở thành vĩ nhân. Một trong số chúng sẽ trở thành “phép màu” thay đổi bộ mặt của y dược hiện đại – thứ phép màu mà tôi sẽ chấm dứt chỉ trong vài phút tới đây thôi…

“Chúng rõ ràng chẳng hề tạo ra chút kết quả khả quan nào. Tại sao ông lại phí hoài công sức và trí tuệ của mình để bấu víu vào một nghiên cứu vô vọng như vậy chứ?” – Tôi cố dùng tông giọng mỉa mai khiêu khích để che giấu đi sự run rẩy và lo lắng của mình. Và có thể, một hi vọng nhỏ nhoi nào đó, lời nói của tôi sẽ là giọt nước tràn ly để nhà khoa học tội nghiệp kia từ bỏ nghiên cứu của mình…

“Tôi đang định nghiên cứu một loại thuốc…”

Tôi biết. Nếu tôi không ở đây hôm nay, ông sẽ tìm ra trong tương lai không chỉ một loại, mà là cả một họ thuốc: từ penicillin G, hay còn gọi là benzylpenicillin, vắc xin tiêm cơ hoặc tiêm mạch máu chống viêm phổi, giang mai, bạch hầu và vô số loại bệnh khác đến penicillin V, phiên bản thuốc uống nhưng không kém phần hiệu quả, và còn nhiều nữa. 

Nhưng vì tôi ở đây hôm nay, ông sẽ không làm được điều đó đâu.

“…để chống lại bệnh viêm phổi do liên cầu khuẩn. Quý ngài thấy đấy, vừa hôm nọ tôi vừa nhận được báo cáo rằng bệnh dịch này, vốn đã hoành hành trong quân đội từ thế chiến, hiện đang có dấu hiệu đi lên.”

Nghe quen thật. Phải rồi. Trong thế chiến II bệnh này sẽ vẫn hoành hành, và không gì khác ngoài penicillin của ông đã giúp hàng triệu bệnh nhân khỏi bệnh. Đó là lý do mà thuốc của ông được gọi là “thần dược” nhỉ?

Ông sai rồi. Chỉ cần tôi tiêu hủy mẫu này, không chuyện gì trong số đó sẽ xảy ra đâu. 

“Hàng triệu bệnh nhân sẽ chết, nên tôi muốn ngăn cản việc đó.”

Họ sẽ chết ư?

Tôi cố gắng nhớ lại số người đã được cứu sống bởi thứ thuốc này. Hơn 80 triệu người. Liệu tôi có thực sự muốn đưa 80 triệu người này về cõi chết chỉ với phát súng này? Nhưng đổi lấy 80 triệu sinh mạng ấy là không ai khác mà chính là mẹ…

“Nếu tôi có thể hoàn thành thứ thuốc này càng sớm càng tốt, tôi chắc chắn sẽ cứu được nhiều binh lính.”

Tôi sẽ sẵn sàng đánh đổi chứ?

“Ông là người tốt.” – Tôi buông thõng tay súng xuống. Sau cùng, tôi cũng không có đủ can đảm làm việc ấy. 

“Cảm ơn vì lời khen của quý ngài.” 

“Tốt thôi. Tôi quyết định sẽ không lấy mẫu thí nghiệm của ông làm gì. Thực ra, để tôi nói với ông một điều: đừng bỏ sót một mẫu nào hết. Giờ, xin chào tạm biệt.”

Tôi bước ra khỏi cửa, bỏ lại Fleming đằng sau.

————————-

Tôi nhìn lại di ảnh mẹ trong chiếc mề đay, hai tay chắp trước ngực:

“Xin mẹ tha lỗi cho đứa con bất hiếu đã không thể trả thù cho mẹ.”

Tôi đã thất bại hoàn toàn. Hãy cứ cho là tôi suy xét đến hậu quả của sự biến mất này đến nền kinh tế thế giới khi đó và nó sẽ bằng một cách nào đó ảnh hưởng đến cái kết hạnh phúc tôi hướng đến. Tôi tự nhủ mình là như vậy, vì chỉ nghĩ đến việc mình từ bỏ cuộc sống bên mẹ và thiên nhiên xinh đẹp bởi lòng thương cảm những kẻ thấp hèn ấy thôi cũng làm tôi ghê tởm chính bản thân mình. Tôi quá hèn nhát. Quá yếu đuối. Quá đa cảm. Con người, khoa học – chúng không xứng đáng với bất kỳ tình thương và sự cảm thông nào. Nếu thực sự muốn trả thù, tôi cần có một cái đầu lạnh hơn, một kế hoạch tường minh, chi tiết và cẩn thận hơn. Có lẽ một phần sự xuất hiện ngoài ý muốn của Fleming đã làm bộ não tôi đình trệ trong giây phút quyết định.

Quay về bàn làm việc với tâm trạng trống rỗng, tôi không thấy bài giảng trong lễ nhận giải Nobel của Fleming đâu. Rõ ràng tôi đã để nó trên mặt bàn trước khi đi mà.

Chẳng lẽ tôi đã thay đổi lịch sử?

Tôi vội vàng tìm lại bài phát biểu ấy. Trong bài phát biểu có trích đoạn:

“…penicillin là một phát minh tình cờ của tôi. Thực tế, tôi đã không chú ý đến mẫu thí nghiệm ấy – một nhà tiên tri mà tôi tình cờ gặp đã nói cho tôi về quan sát này…”

Chắc là tôi đấy. Thôi vậy, chuyện gì đã qua thì cứ cho qua.

Tôi nhìn lại cuốn sổ của mình. 

Nhớ lại đi nào, thằng kia. Cô giáo lịch sử đã dạy mày cái gì?

“…Cách mạng công nghiệp được xúc tác bởi một mạng lưới giao thông vận tải hùng hậu…”

Lại một lần nữa, ý tưởng lóe sáng trong đầu tôi.

Nhưng lần này, sẽ không có hai từ “thất bại”.

——————————————————————————-

Hmm, there are so many ways to start this plan. I could go to the most distant past and smash the great stronghold named “science” right from its foundations. However, the time machine has just been able to run; thus, I can’t risk going too far: there’s no guarantee that my first try would work out right away; plus, the consequences of changing the past will be more unpredictable if I do so. Need a more careful plan than that. Slow, yet steady. Time is on my side in this fierce battle anyway.

Besides, human life has always so heavily depended on scientific inventions that even just one historically important invention “vanishing into thin air” alone is enough to change hundreds of millions of people’s fates… An ingenious idea flashes through my mind. EUREKA! MEDICINE! That’s right, I should have thought of it at the beginning! Humans have been living for too long with their stupidity, and their insane reproduction rate. As long as I find a medical invention that is influential enough, yet was invented in such coincidence that its non-existence would be perfectly reasonable. The remaining work is only counting on the impatience of mankind who would stop research once no satisfactory results are obtained. With fewer people, urbanization would be delayed by a few decades, even by centuries: at least long enough for me to see my mother aging by my side, on the green grass, in the vast and lively forest…

Combining all the factors from ability and development to destination and time, I have found the perfect goal for myself: Penicillin – the so-called legend that paved the way for world medicine. Yes, it’s the antibiotic famously known as the “panacea” of the 20th century. Considered one of the most widely developed drug classes, Penicillin has brought unprecedented efficacy in the history in treating diseases related to Gram-positive bacteria, including many infamously dangerous ones like gonorrhea, pneumonia, or meningitis (the more deadly type caused by bacteria rather than viruses as many have mistaken). The invention that helped Alexander Fleming earn a Nobel Prize in Medicine along with his reputation as the initiator of the “antibiotic revolution” in Pharmacy’s history two hundred years ago would now – or rather, long after humanity knows that it exists –  make me the initiator of a whole new revolution – the one that eradicates science of all humanity.

I’m ready.

“The destination has been confirmed: September 2, 1928, London. Preparing to go into space-time. ” – The sound echoing from the controller makes me shudder at what I’m about to do, and the possible consequences, whatever that is.

Sorry, Fleming. Perhaps you should never have found it in the first place.

——————–

London, September 2, 1928.

The time machine has taken me into this small, dark, and damp alley. After checking for a while to make sure I’m not being watched by some time-policemen (should always be careful, still), I quickly immersed myself in the hustle and bustle stream of people on the main road.

As expected of the top commercial center of its time! London in the late twenties was noisy, bustling, and urgent, even somewhat overwhelmed compared to the initial visualization of a man who only learned about it through books. On the main roads, the latest models of Ford cars are traveling. At the jetty on the River Thames, boats and goods are going in and out, yet the echoes from ships’ horns are still overwhelmed by the sound of thousands of passengers and all other kinds of people. The markets are packed with buyers and sellers. It seems that even though only half a year has passed since the historic flood in early January 1928, the city has revived its usual state.

Since the plan was to infiltrate into the laboratory in the early morning the next day, I still have some spare time from now until then to visit the Royal Greenwich Observatory – after all, even those who dislike science as much as I do must also admit that stargazing at the observatory is an “addictive” hobby. I don’t remember when was the last time I had the chance to properly look at the night sky, probably at least since they dragged me to that dusty city, where light pollution is so severe that the stars couldn’t outshine a bunch of flashy billboards and artificial lights from skyscrapers.

By the time I arrived, it was late afternoon. Standing at the top of the observatory, I set my eyes on the view of Greenwich Park. In the far distance, on the top of the hill covered with green grass, an ancient tree is covering. The strange-yet-familiar scenery unlocked a vigorous stream of memories flooding through my mind: also on a hill with green grass, under the shade of foliage where nature protected me, my mother used to hold my hand. guide the first strokes, save the peace, simplicity seems to last forever. I folded my hands on my chest and prayed:

“May you bless my wish, mother. Just a little more, and our happy old life will be able to return to the way it was. ”

Just one more night.

———————

The rising dawn on September 3.

I’m standing here, right in front of Fleming’s laboratory.

Disguised as a sanity inspector, I bought with myself only a small pistol in case – yet I had no intentions to actually use it. The fake ID card and badge were probably sufficient to buy time for me to escape in any situation.

Less than 30 minutes after, I had already infiltrated all the way into Fleming’s room – the 1928 doors are no match against the hacking technologies of the 22nd century. On the sofa at the corner of the messy room were a pile of Staphylococcus bacteria samples under research. I swiftly raised my gun and aimed at that pile. One shot, and the first penicillin sample in history will be reduced to debris.

Right at that moment…

“Sir, what are you doing here so early?”

Alexander Fleming appeared behind me.

Goddamn it, I must have made some serious miscalculations. In the brink of the moment, I quickly turned and pointed my gun directly at his forehead, my elbow knocking some samples onto the ground in the process. Ouch.

“What are you doing here?”

“This is my laboratory sir. Besides, I probably should be the one asking you that question. What do you want from me, sir?”

“Don’t move, and don’t utter a single word. Give me all those Staphylococcus samples – I will dump them myself.”

“Is that all you want sir? Fine – those are just some of the many samples that I have in store. There are always replacements if I need. I don’t see particular importance in the samples that you want to take from me.”

No, they are actually the most important ones Fleming. It’s just that you don’t know. One of those in particular would turn you into one of the most celebrated scientists of all time. That one would also be hailed as the “miracle” that forever changed modern studies of medicine, and I am going to end that miracle right here, right now.

“Your research’s progress is just stagnant beyond repair. Why would you waste your efforts in clinging to such a desperate research project?” – I tried to use a sarcastic voice to hide my worries. The precondition for my success is for him to give up – my dampening speech might do just that…

“Well, you see sir, I am working on a type of medicine…”

I know I know. If I’m not here today, you would not find just one, but a whole array of medicines. Form Penicillin G, or benzylpenicillin, a vaccine injected into the veins or muscles that can cure pneumonia, syphilis, diphtheria and many more, to Penicillin V, a drinkable but as effective variant, to other types of them as well. 

But again, since I’m here today, you can practically dream about that.

“… to cure staphylococcal pneumonia. You can see, just the other day I received a report that this disease, having ravaged the troops during the war, are currently on another rise.”

Right, that sounds familiar. In the Second World War, this disease would still ravage, and your medicine cured millions of them. That was probably why your medicine was called a “miracle cure” right?

Of course none of that would happen if I get rid of these stupid samples, you know.

“Millions would die of this disease, so I want to stop it.”

They will die?

I tried to remember the number of people saved by this medicine. More than 80 million. Am I really willing to send those people to hell just with this trigger of the gun? On the other end of that exchange would be my mother…

“If I can finish this as soon as possible, I will definitely save many of those lives.”

Do I dare to exchange?

“You are a man worthy of praise.” – My gun-raising arm let loose. In the end, I did not have the courage to do so.

“Thank you for your compliment sir?”

“Oh well. I have decided that your samples are not worth it for me. You can keep investigating them. In fact, let me tell you: investigate ALL of them. You would not regret it. Now, farewell.”

I stepped out of the door, leaving a frustrated Fleming behind.

—————————-

I looked at the portrait of my mother, my two hands on my chest:

“Mother, please forgive this son for not being able to get revenge for you.”

I failed miserably. “I just let slip of this because its consequence on the world’s economy would be too harsh for my dream scenario” – I mumbled to console myself, because the mere thought of me giving up my dream to live happily beside my mother for these dirty scoundrels would just be disgusting. I was a weakling, reeked of emotions that I should not have even considered having. Human, science – they don’t deserve the least of any love or sympathy. If I am really to revenge my mother, I should be more cold-minded with a more detailed plan. The unexpected appearance of Fleming might have distorted my thoughts at that very crucial moment.

Disillusioned as I returned to my working desk, I spotted no trace of Fleming’s Nobel lecture. I clearly remembered leaving it on my table before leaving. 

Could it be that I have changed history?

I quickly recovered a copy of it online. Inside of it were those lines:

“…penicillin came to me as an unexpected observation. In fact, I did not pay attention to that sample – a fortune teller that I bumped into has told me about this discovery…”

Yep, that was definitely me. Well, let bygones be bygones.

I look at my planning notebook.

Try to remember, you fool. What did your history teacher tell you?

“…The Industrial Revolution was fueled by an extensive transportation network…”

An idea suddenly came to my head, yet again.

But this time, there would be no such thing as “failure”.

[Prologue]

English

“Cậu Verloren?” – Tiếng gọi khàn khàn của một người đàn ông trạc tuổi trung niên đã kéo tôi ra khỏi cơn buồn ngủ trong tiết học cuối cùng của ngày. 

“Dạ, là em.” – Tôi miễn cưỡng đứng dậy và giơ tay, đôi mắt còn chưa tỉnh hẳn như viết lên mặt mình mấy chữ “Không hứng thú”.

“Cậu là học sinh mới ?” – Vẫn là chất giọng khàn khàn đó.

“Vâng” 

“Tất cả học sinh học buổi đầu tiên tôi dạy đều phải vượt qua một bài kiểm tra. Cậu biết đấy, không phải ai cũng có thể ngồi trong lớp Khoa học chung nâng cao của tôi. Kể cả cậu là học sinh mới, tôi e rằng cũng không có ngoại lệ: bốn câu hỏi vấn đáp ngẫu nhiên – để đảm bảo rằng cậu đủ khả năng để theo kịp.”

“Ngay bây giờ ấy ạ?” – Tôi hơi ngạc nhiên, cũng khó mà trách được vì mới chưa đầy hai phút trước đây thôi, tôi còn chưa rõ mình đang học môn gì.

“Đương nhiên rồi, vốn dĩ những người khác đều không chuẩn bị gì hết. Nào, câu hỏi thứ nhất: Tại sao dấu hiệu chia hết cho 9 của một số là tổng các chữ số của nó chia hết cho 9?” 

Não à, làm việc đi. Tôi nghĩ một lúc. Câu hỏi lần đầu tiên nghe, nhưng tôi có một linh cảm có vẻ hợp lý…  “Vì nếu lấy số đó trừ đi tổng các chữ số của nó thì được một số luôn chia hết cho 9.”

Thầy vẫn giữ nguyên vẻ mặt lạnh lùng, tay cầm bút đỏ và mắt cứ chăm chăm vào quyển sổ đen trước mặt: “Cũng khá, nhưng mất quá nhiều thời gian. Được rồi, khám phá nào là bước đầu tiên của con người trên con đường dẫn đến sự chế ngự thiên nhiên?”

Trống rỗng, không có một manh mối nào. Tôi lắc đầu: “Em không biết.”

“Cậu không biết ư? Ngạc nhiên đấy. Đó là lửa, nó giúp ta chống lại thú dữ, có ánh sáng, và có nhiều dinh dưỡng hơn. Làm sao cậu có thể học lớp này khi thiếu kiến thức cơ bản về lịch sử khoa học thế này chứ!” – Thầy hơi nhíu mày, đôi mắt vẫn không nhìn tôi lấy một lần – “Vậy cậu có biết cách mạng khoa học diễn ra trong thời kì nào không?”

Tôi không biết.

“Trời ơi! Thế kỷ 16 và 17, một thời kì huy hoàng, vượt qua cả thời Phục hưng và là nền tảng cho cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên! Tại sao cậu có thể không biết chứ? Cậu không đọc lại sách giáo khoa cấp một à? Cơ hội cuối để cậu gỡ gạc đây: Tại sao năng lượng nhiệt hạch hiện là nguồn năng lượng chính của con người?”

Ký ức trở về ồ ạt, nặng nề đến mức bao vây tâm trí tôi và khiến đầu tôi choáng váng như bị hích một cú đau điếng từ sau gáy. Có những tổn thương tinh thần sâu sắc đến mức cơ thể bạn có thể cảm nhận nó như một nỗi đau về thể xác. Tại sao tôi phải chịu đựng những thứ này? Tôi nghĩ về mẹ, về việc tôi yêu bà nhường nào và bà hẳn sẽ không muốn nhìn con trai mình gục ngã. Tôi nói ra một lý do chung chung nào đó để tỏ ra lịch sự nhất có thể: “Vì các công ty lớn đầu tư vào nó?”

“Cậu có suy luận chút nào không thế? Có nhiều lý do, nhưng đương nhiên quan trọng nhất là độ dồi dào, bền vững và an toàn của nó.”

Hai chữ “an toàn” chính là nút “kích nổ” cho toàn bộ các cơ quan phản ứng của tôi. Tôi có thể cảm nhận  toàn thân mình nóng lên như lửa, và nỗ lực kiếm chế cảm xúc cuối cùng của tôi thất bại: “Vậy vụ tai nạn tuần vừa rồi là sao? An toàn ở chỗ nào?”

Mặc cho sự bùng phát nỗi tức giận của tôi, thầy chỉ nâng nhẹ gọng kính, gõ thước kẻ ra hiệu cho lớp trật tự rồi đưa mắt nhìn tôi, tựa hồ cái bốc đồng trẻ con này của tôi chẳng đáng để thầy quan tâm.

“Cậu Verloren này. Tôi biết về hoàn cảnh của cậu và chia buồn với cậu. Tôi cũng biết đến chuyện cậu được giáo dục tại nhà hết năm năm tiểu học và cả việc điểm số trong bài kiểm tra tiềm năng trí tuệ của cậu xuất sắc đến mức nào để cậu được ngồi ở đây. Nhưng tất cả điều đó không cho phép cậu có thái độ cư xử như vậy với giáo viên, nhất là khi năng lực của cậu không hề hoàn thiện. Bây giờ thì dừng việc phản ứng thái quá này lại và lên phòng hiệu trưởng cho tôi.” – Giọng thầy lạnh đi rõ ràng, cái lạnh lùng khiến tông giọng tưởng như không thể nghiêm nghị hơn của thầy thêm phần đáng sợ. Cả lớp im phăng phắc – sự im lặng của cái cảnh đến giờ kiểm tra miệng mà không có đứa nào học bài rồi ấy. Phản ứng thái quá ư, lão biết gì mà bảo tôi phản ứng thái quá chứ!  Được, đi thì đi, dù sao cũng chẳng thể tiếp tục học hành gì với tâm trạng này.

Buổi học khoa học đầu tiên của tôi kết thúc như vậy đó. Các buổi sau này cũng chẳng khá hơn là bao. Tôi cảm thấy thật tù túng, trong trường học, ở cái căn hộ bé xíu mà họ gọi là “nhà”, trong cả cái thành phố đáng chán ghét này. Những ngày tháng tươi đẹp trước kia cứ ám ảnh tôi…

Hàng ngày tôi và mẹ bước đi trên những con đường xuyên qua thảm cỏ, xuyên lên núi, xuyên thẳng vào rừng. Chúng tôi nói chuyện trên đường đi, nào là về những người xung quanh, về thành phố, và về thiên nhiên. Luôn luôn về thiên nhiên. Cũng bởi vì thiên nhiên chỗ chúng tôi đẹp quá: màu xanh của lá và màu xanh của trời (các màu sắc này đều từ màu trắng của ánh sáng mặt trời mà ra, con ạ), tiếng thở của rừng, mùi lá khô, vị nước suối, sự mềm mại của thảm rêu. Cả năm giác quan cùng nhau cảm nhận vẻ đẹp ấy. Tại chỗ nghỉ trưa, mẹ sẽ lấy bộ đồ vẽ ra, và cả hai mẹ con cùng thi nhau vẽ lại phong cảnh trước mắt. Mẹ dạy tôi nhiều thứ, nhưng nhiều nhất là cách yêu quý thiên nhiên và trân trọng những gì được truyền lại cho mình.

Sự yên bình đó trái ngược hẳn với những gì đang diễn ra trên thế giới xung quanh. Có thể nói chúng tôi đang ở một ốc đảo xanh của Trái Đất. Theo mẹ tôi kể, với sự phát triển của khoa học kĩ thuật trong thế kỉ 22, dân số thế giới đã tăng lên 20 tỷ vào năm 2150, khác xa so với dự đoán các nhà khoa học đầu thế kỉ 21. Mức sống tăng lên, cũng có nghĩa mỗi người trung bình chiếm nhiều không gian hơn. Và thế là con người ra biển, lên Mặt Trăng mà sống. Nhưng họ cũng không bỏ quên những cánh rừng. Vâng, họ phá rừng làm chỗ cho đô thị với  tốc độ và hiệu quả mà con người xưa kia không thể tưởng tượng nổi. 

Và một ngày đầu hè năm tôi lên mười tuổi, sự càn quét ấy đến với đồng cỏ và cánh rừng cạnh nhà chúng tôi. Tôi phải chứng kiến cả thảm cỏ biến thành đất xây dựng, và hàng trăm cây thân gỗ cao to vững chắc biến mất mỗi tuần. Mọi thứ trong lời kể của mẹ bỗng trở thành hiện thực phũ phàng ngay trước mắt. Tôi đứng đó, khóc. Mẹ cũng khóc, nhưng bà cố kìm nước mắt lại mà nói, “Hãy giữ lấy những kỉ niệm đẹp và lạc quan lên nhé, con yêu. Cầu vồng chỉ xuất hiện sau cơn mưa. Biết đâu một ngày nào đó con sẽ gặp được một chiếc cầu vồng đặc biệt và giúp con hồi sinh lại những cánh rừng này…” Mẹ cố mỉm cười để trấn an tôi, nụ cười nơi mẹ vẫn luôn đẹp đẽ như thế, kể cả vào buổi sáng hôm ấy lúc mẹ chào tạm biệt khi tôi còn ngái ngủ…

Chúng tôi mất chỗ ở nên phải lên thành phố, mẹ cũng phải đi làm kiếm sống. Dự án lớn duy nhất sắp triển khai là nhà máy nhiệt hạch cung cấp điện cho khu vực chuẩn bị xây của thành phố. Mẹ đi tập huấn trong bốn tuần và được nhận vào làm công nhân ở đó. Thật nực cười làm sao, cái cách mà bọn họ phá bỏ tổ ấm của chúng tôi rồi tỏ ra cao thượng bằng cách cho mẹ một công việc tạm bợ,khiến mẹ bận bịu cả ngày và tôi đành phải đến trường.

“Nhà máy điện hạt nhân ư? Chẳng phải nó rất nguy hiểm sao?” – Tôi hỏi mẹ khi bà chuẩn bị đi làm chính thức.

“Con à, sẽ an toàn thôi. Đây là nhà máy nhiệt hạch sử dụng thiết kế tokamak, khác với những nhà máy phân hạch thế kỷ XX mà mẹ từng kể cho con. Ít phóng xạ độc hại, và nguy cơ rò rỉ là gần như không có.”

“Con không tin!”

“Con à, để xảy ra phản ứng và sinh nhiệt, nguyên liệu là hydro phải ở nhiệt độ rất cao và bị nén rất mạnh, gọi là plasma. Nếu rò rỉ, nó sẽ giãn nở ra, nguội đi và thế là không còn phản ứng nữa. Có rất nhiều cơ chế bảo vệ khác nhau. Tuyệt đối an toàn, con ạ!”

Tôi tin lời nói chắc nịch của mẹ. Tin cho đến khi niềm tin ấy quay lại đâm thẳng vào sau lưng tôi. Bốn ngày sau, tôi nghe thấy người ta bàn tán. Có gì đó không ổn khi mẹ ngắt nguồn điện để sửa bộ phận gần tâm lò phản ứng – cơ chế an toàn duy nhất có khả năng dừng phản ứng trong trường hợp mất điện do lỗi phần mềm. Các cơ chế còn lại không thể hoạt động nếu không có điện. Trong vài giây trước khi khối plasma kịp nguội đi, mẹ cùng vài người khác đã mở bộ phận đó ra. Luồng plasma phả ra đã đốt cháy họ, phá huỷ máy móc bên ngoài lò phản ứng trước khi nguội hoàn toàn. Bản thông báo chỉ giải thích lạnh lùng: “một số lỗi kỹ thuật và vận hành do đẩy nhanh tiến độ”.

Nghe tin dữ, điều đầu tiên hiện ra trong trí óc tôi là cảnh tượng mẹ kể tôi nghe cơ chế phản ứng. Các hạt có tên deuterium và tritium bay thật nhanh và vô tổ chức khi bị đốt nóng, nhanh đến nỗi khi đâm sầm vào nhau, chúng nhập thành một hạt lớn hơn. Một phần khối lượng của chúng chuyển thành năng lượng và được hấp thụ bởi khí làm quay tua-bin. Cảnh tượng thật yên bình và vui vẻ làm sao. Nhưng rồi tôi thấy khối khí đó bao trùm lấy mẹ tôi, và sự thật phũ phàng lại hiện ra trước mắt tôi.

Tôi hoàn toàn đánh mất bản thân mình, đánh mất mục đích sống, đi lang thang vô định trong thành phố. Rồi sự trống trải nhường chỗ cho sự tức giận. Tại sao mẹ lại tin lời đảm bảo an toàn của họ? Tại sao họ lại phá đi chỗ ở, niềm vui và hạnh phúc của chúng ta? Tôi cứ thế đi lạc đến một khu nhà kho ở ngoại ô. Nhà kho đầu trông rất cũ và tồi tàn, những tấm mạng nhện dày như vải đan chứng tỏ đã khá lâu rồi nơi này vắng bóng con người. Tức giận và chẳng còn tỉnh táo, tôi đập phá tất cả những thứ đồ công nghệ lọt vào tầm mắt. Công nghệ! Nó làm được gì chứ, ngoài việc đem lại đau khổ cho tôi? Cứ thế, tôi lết sang nhà kho thứ hai, kiệt sức và thiếp đi lúc nào không biết.

Sáng thức dậy, tôi nghe tiếng người nói gần đó.

“Có người đã đến đây. Ta sơ suất quá, cứ nghĩ dân thành phố không bao giờ ra đây. Phải chuyển địa điểm thôi.”

“Phải đảm bảo là kẻ đó không còn ở đây nữa, và phải điều tra ra tung tích để trừ khử. Nếu kẻ đó phát hiện ra cỗ máy thời gian thì…”

Tôi nhảy dựng lên. Gã giám đốc kỹ thuật nhà máy kia mà! Và cỗ máy thời gian ư? Nghe hay đấy. Một ý nghĩ mới nảy ra trong tôi: trả thù. Tôi vớ lấy một thứ nhìn như khẩu súng ở gần đó, chộp một cái mặt nạ đeo lên. Ít nhất thì tôi cũng biết bóp cò. Căng thẳng. Chờ đợi. Họ tản ra tìm kiếm, bước thật nhẹ, nhìn từng góc một. Tôi lủi vào một góc, giơ súng lên sẵn sàng. Có giết họ không? Họ đã hủy hoại gia đình tôi, và bây giờ tôi là mục tiêu kế tiếp. Nhưng họ không có vũ khí! Tôi không giết họ được. Nhưng có thể phá huỷ kế hoạch của họ, hay tốt hơn là biến nó thành kế hoạch của riêng mình.

Bất thình lình, người đầu tiên đi ngang qua mặt tôi. Chỉ cần ông ta kêu lên, gã kia sẽ chạy đến giúp. Tôi hít một hơi, nhắm vào đùi, bóp cò. Phụt. Tôi lạnh gáy, nhưng rồi chỉ thấy một cây kim bắn ra găm vào đầu gối của ông ta. Ông ta thấy tôi, định kêu lên, nhưng ngã vật xuống. Mình đã làm gì vậy? Tôi nhìn xuống đọc nhãn trên khẩu súng, hóa ra đó là một khẩu súng an thần liều cao dùng khi săn gấu và các động vật hoang dã khác. Một liều mạnh đến mức gấu cũng bị quật ngã thì hỏi sao tên gầy gò, nhỏ con này lại gục nhanh đến như vậy!

Đúng lúc đó, tôi ngã dúi ra đằng trước, khẩu súng văng ra ngay trước mặt tôi. Gã giám đốc cười gằn, “Mày làm gì ở đây? Và mày làm gì bạn tao vậy?” Lão kêu lên giận dữ.

“Tao sẽ bẻ mặt nạ của mày ra, và lôi cái tên của mày ra khỏi miệng mày. Được rồi…”

Cây kim thứ hai găm vào đùi ông ta. Tôi hổn hển đứng lên. Họ đang giấu cái gì ở đây? Lục soát người họ, tôi thấy vài bản vẽ phức tạp, trên đó ghi “bản duy nhất”. Phải rồi, chắc họ quá sợ tấn công mạng nên chỉ giữ bản cứng. Họ lưu giữ thiết kế các bộ phận máy móc trong những bản vẽ thế này – tất cả các chi tiết: vật liệu, kích thước,… Với khả năng phác thảo của mình, tôi nhanh chóng sao lại các bản này, cố tình tạo ra nhiều thay đổi nhỏ, rồi thay vào chỗ của bản gốc. Tôi đi khắp nhà kho này, tìm thấy một khu được sử dụng gần đây, chụp lại tất cả tài liệu, rồi trả về hiện trạng ban đầu. Tôi về nhà, tim vẫn còn đập thình thịch. Có lẽ tôi có thể trả thù cho mẹ. Tôi phải làm được.

Trong suốt mười lăm năm sau, tôi vẫn sợ hành động liều lĩnh hôm đó sẽ làm tôi bị bắt, thậm chí bị giết, nhưng thật kì lạ là tôi không bị tìm ra. Tôi đi học chủ yếu để có chút hiểu biết về lịch sử và khoa học, còn lại dành thời gian nghiên cứu các tài liệu mà tôi đã trộm được. Tôi bị ám ảnh bởi mong muốn hiểu được cơ chế của nó, và biến nó thành hiện thực. Suốt năm năm cuối, tôi đã xây xong “cỗ máy”, nhưng nó không hoạt động và tôi luôn phải nghĩ cách cải tiến. Trong một khoảnh khắc tuyệt vọng, tôi thử bừa một cách tương đối kì lạ. Tôi sững người lại khi thấy cái máy bật lên, đưa tôi về mười lăm năm trước, trong đúng căn nhà này. Choáng người vì bất ngờ, tôi vội vàng quay lại vì sợ bị phát hiện. Bây giờ phải lên kế hoạch cẩn thận. Tôi sẽ làm gì?

Ý nghĩ đầu tiên của tôi là cứu mẹ. Nhưng tôi biết dù mẹ có sống, chúng tôi cũng không được hạnh phúc trong thành phố này. Mà việc cánh rừng của chúng tôi bị phá huỷ thì sớm muộn cũng diễn ra, không thể ngăn cản được. Thật vậy, mười lăm năm trôi qua, sự “chế ngự thiên nhiên” của con người chưa bao giờ chậm lại. Phải, tôi phải vì lợi ích lớn lao hơn, phải về quá khứ xa xôi, để chỉ một thay đổi thôi cũng sẽ làm biến đổi bộ mặt của toàn bộ nhân loại. Vậy là tôi nhắm đến các phát minh trong quá khứ. Bằng cách phá huỷ các phát minh quan trọng, tôi sẽ thay đổi lịch sử. Ít người đi, ít công nghệ đi, ít nhất là tôi có thể làm chậm sự phát triển của khoa học. Tôi sẽ trả lại màu xanh và sự yên bình cho Trái Đất, như lời hứa của tôi với mẹ ngày nào!

Nguồn tham khảo (Các bạn có thể vào đây để tìm hiểu sâu hơn những kiến thức được nhắc đến trong bài nhé!):

https://www.iter.org/

https://www.britannica.com/science/fire-combustion

https://www.britannica.com/science/Scientific-Revolution

ENGLISH

“Mr. Verloren?” – The hoarse call of a middle-aged man pulled me out of the drowsiness in the last lesson of the day.

“I’m here.” – I reluctantly stood up and raised my hand, while my eyes still looked sleepy and could not be more obviously uninterested.

“Are you a new student?” – It was still that husky voice.

“Yes.”

“All students who attend the first class I teach must pass an oral test. You know, not everyone can study in my Advanced General Science class. Even if you’re a new student, I’m afraid there’s no exception: four random questions – to make sure you are able to catch up. ”

“Are we doing this right now?” – I was a little surprised; it was hard to blame since less than two minutes ago, I was not sure what subject I was even studying.

“Of course, everyone else was also not prepared at all. Now, the first question: Why is a number divisible by 9 if the sum of the digits is evenly divisible by 9?”

Come on, brain, work! I thought for a while. Though hearing the question for the first time, I had a sense that sounded right… “Because when that number is subtracted from the sum of its digits, the difference is always divisible by 9.”

He remained a cold countenance, holding a red pen and his eyes focused on the black note in front of him: “Quite good, but you take too much time. Okay, which discovery is the first human step on the road to this mastery? ”

Empty. I had no clue. I shook my head: “I don’t know.”

“You don’t know? That is shockingly disappointing. The answer is fire, which helps us to fight against wild animals, to have light, and to have more nutrition. How can you take this class without such basic knowledge of the history of science!” – The teacher frowned slightly, yet his eyes still did not look at me even once. “Do you know in which period did the scientific revolution take place?”

I did not know.

“Oh my God! It was the 16th and 17th centuries – a glorious period – surpassing the Renaissance, and no doubt is the foundation for the first industrial revolution! How can you not know it? Haven’t you read the primary textbook? Last chance for you to redeem yourself: Why is fusion energy currently the main source of human energy? ”

The memory came back so massively that it surrounded my mind and made my head stunned as if I had been hit from the back of my neck. Sometimes, emotional trauma just hurts so bad that your body starts to perceive it as physical pain. Why  did I have to endure this? I thought of my mother, about how much I loved her and how she would not want to see her son breaking down. I gave a generic reason to be as polite as possible: “Because big companies invest in it?”

“Have you tried to deduce at all? There are many reasons, but of course, the most important ones are its abundance, sustainability, and safety.”

The word “safe” was the “trigger” button for all my reaction organs. I could feel my whole body burning like fire, and my last attempt to control my emotions failed: “So what happened last week? Where is the “safety”?”

Despite my outburst of anger, he merely lifted the frame of his glasses, tapped the ruler to bring back the class’s right order and then looked at me, as if this childish impulse of mine was not worth his attention.

“Mr. Verloren, I know about your situation and I am sorry for that. I also know that you have been homeschooled during your five years of elementary school and how outstandingly you have scored on the intellectual potential test for you to sit here. But all of those do not allow you to behave like that to a teacher, especially when your abilities aren’t perfect. Now stop overreacting and go to the principal’s room.” – His voice became much colder, so cold that it seemed like nothing could be more serious. The whole class was in stark silence – the silence like when no one had studied for the oral test. Overreacting, what does he know to tell me I overreacted? Whatever, I went to the office anyway since it is impossible to continue studying anything with this mood.

My first science lesson ended like that. The later lessons were also no better. I feel so trapped – in school, in this tiny apartment they call “home”, and in this disgusting city. The good old days kept haunting me…

Back in the days, my mother and I used to walk on the paths – through the grass, through the mountains, straight into the forest. We talked along the way, about the people around, the city, and nature. It was always about nature. It was understandable since our place is so beautiful: the green of the leaves, the blue of the sky, the breath of the forest, and the smell of dry leaves, the taste of spring water, the softness of moss – felt by all the five senses. At the lunch break, mom would take out her drawing set, and we would have a competition in drawing the scenery in front of our eyes. She taught me many things, mostly how to cherish nature and appreciate what is passed on to me.

Such peace was the complete opposite of what is happening in this world. It was easy to tell that we were in a green oasis of the Earth. My mother once told me that with the development of science and technology in the 22nd century, the world’s population had increased to 20 billions by 2150, far from what scientists had predicted in the early 21st century. Living standards increased, meaning an average person occupied more space. Consequently, people had been going under the sea and to the Moon to live. Unfortunately, they did not forget the forests. Yes, in order to make room for urban areas, they started using a deforestation method with such speed and efficiency that people could have never imagined before.

And one early summer day when I was ten years old, that sweep came to the grasslands and the forest next to our home. I witnessed grassy fields turning into construction ground, and hundreds of tall, solid woody trees disappearing every week. Everything in my mother’s words suddenly became reality right in front of our eyes. I stood there, crying. Mom cried, too, but she held back her tears and said to me, “Keep the beautiful memories and be optimistic, my dear. Remember that a rainbow only appears after the rain. Maybe someday you’ll meet a special rainbow that helps you revive these forests…” Mom tried to smile to reassure me – her smile had always been beautiful like that, even in that morning when she said goodbye when I was still sleepy…

Having lost our accommodation, we had to go to the city, and my mother also had to work for a living. The only major project that was going to be implemented was a fusion power plant that would supply electricity to the city’s new area. She got trained for four weeks and was admitted to the factory there. How ridiculous it was, the way they broke down our home and acted nobly by giving mom a temporary job – something that kept her busy all day and gave me no choice but to go to school.

“Nuclear power plant? Isn’t it like, super dangerous? ” – I asked my mother when she was preparing for the first day at work.

“Son, it will be safe. This is a fusion plant that uses tokamak design, which is way different from the fission plants of the twentieth century that I have told you. Less harmful radiation and the risk of a radioactive leak is almost none. ”

“I don’t buy it!”

“Sweetie, for the reaction to occur and generate heat, the material, which is hydrogen, must be extremely hot and compressed into something called plasma. If leaked, it expands, cools, and thus no longer reacts. There are many different protection mechanisms. Absolutely safe, dear!”

I had believed in my mother’s assuring words. Believed in them until that belief returned to stab me right at my back. Four days later, I heard a commotion. Something went wrong when Mom cut off the power supply to fix the structure near the center of the reactor – the only protection mechanism that could stop the reaction in case of a power outage caused by a software failure. The remaining mechanisms do not work without electricity. In the few seconds before the plasma block cooled down, my mother and several other people had opened that structure. Consequently, the plume of plasma burned them and destroyed the machinery outside the reactor before cooling completely. The accident report just explained bluntly: “some technical and operational errors due to speeding up process”.

Upon hearing those dreadful news, what first appeared in my mind was the scene in which Mom explained to me the reaction process. Particles called deuterium and tritium flew chaotically with such incredible speed that once they collided, they fused into a larger particle. A portion of their mass was converted into energy and later absorbed by gases that ran turbines. Such a tranquil and joyous scene that was. But everything vanished in a glimpse, leaving behind only the bitter truth.

I had completely lost myself, lost my life’s purpose, thus I just wandered around the city. Then emptiness gave way to anger. Why had mom trusted their safety assurance? Why had they destroyed our shelter, our joy, and our happiness? I kept going until somehow I ended up at a suburban warehouse. It looked very old and shabby; spider webs that looked as thick as knitted fabric show that no one had been here for quite some time. Enraged and not being in my right mind, I smashed every technology-related thing that caught my eye. Technology! What could they do, besides making me suffer? Just like that, I became exhausted and fell asleep without knowing.

Waking up in the morning, I heard voices from people nearby.

“Someone has come here. I was so careless, I thought urban people would never come. We have to change location.”

“Make sure those people are no longer here, and investigate their whereabouts to eliminate them. If they find out about the time machine…”

I jumped up. The nuclear plant’s technical executive! And a time machine? Sounded cool. A new thought occurred to me: revenge. I grabbed what looked like a gun nearby, and put on the mask next to it. At least I knew how to pull the trigger. Stress lingering in the air. Waiting. They spread out searching, taking small steps, looking at every corner. I lurked into a corner, raising my gun readily. Should I kill them? They had ruined my family, and I was their next target. But they had no weapons! I could not kill them. But it was possible to destroy their plan, or better make it my own plan.

Suddenly, the first man walked past my face. As soon as he exclaimed, the other man would come and help. I took a breath, aimed at the thigh, and pulled the trigger. Phew. I got goosebumps, but then only saw a needle shot into his knee. He had seen me, and was about to cry, but fell down instead. What did I do? I looked down to read the label on the gun, which turned out to be a powerful tranquilizer gun for bears and other wild animals. Such a strong dose created for bears was then used for such a small guy – no wonder it worked so fast!

At that moment, I fell to the front; the gun had escaped my hand and had been right in front of me. The executive laughed, “What are you doing here? And what are you doing to my friend?” – He shouted angrily.

“I’ll break your mask off, and pull your name out of your mouth. Let’s see…”

The second needle was inserted into his thigh. I gasped to stand up. What had they been hiding here? Checking their bodies and bags, I found two sophisticated blueprints with tags “Exclusive” – clearly they were fearful of cyber attack. The blueprints contain information on the designs of machine parts, together with their characteristics: material and specifications,… With my sketching ability, I quickly copied those two, deliberately made trivial changes, and then replaced them with the originals. Then I went around the warehouse, found a recently used area, took a snapshot of all the documents, and then rearranged the area into its original state. My heart was still beating at my face until I went home. Maybe I could get my revenge. I must do it.

For the next fifteen years, I was still afraid that reckless action would cause me to be arrested or even killed, but strangely, I was not found. I went to school mainly to gain some knowledge of history and science, and spent the remaining time researching the documents I had stolen. I was obsessed with the desire to understand their mechanics and turn them into reality. During the last five years, I have built the “machine”, but it never worked and I always had to search for improvement. In a moment of despair, I tried a relatively odd harrow. I froze when I saw the machine switched on, taking me back fifteen years ago, in this same house. Stunned with surprise, I rushed back for fear of being discovered. Now I must plan carefully. What should I do?

The first thought that struck me was to save my mother. However, I know that even if mom is alive, we cannot be happy in this city. In addition, the destruction of our forest would sooner or later occur – it is unstoppable. Indeed, fifteen years have passed, and yet human beings have never slowed down in overpowering nature. Yes, I must, for the greater sake, return to the far-away past, so that one small adjustment will change the face of the whole humanity. My aims are now past inventions. By destroying important inventions, I will change history. Fewer people, less technology; at least I can slow down the development of science. I will return the green and the peace to the Earth, as my promise to my mother!

Reference:

https://www.iter.org/

https://www.britannica.com/science/fire-combustion

https://www.britannica.com/science/Scientific-Revolution