[BÀI DỰ THI LE SPECTRE #1: NGỦ ĐÔNG]

Tác giả: Phạm Thị Thúy Quỳnh
Lớp – Trường: Đại học Văn Hóa Hà Nội

1.
Gã xỏ dép và bước vào phòng tắm, sau khi vệ sinh cá nhân, gã vặn vòi hoa sen. Nước xối xuống vai, cánh tay và bắp chân, gã bắt đầu kỳ cọ một cách kỹ càng. Dù rằng giờ đây cho dù gã có dành cả năm không tắm thì cũng chẳng có ai để ý, song gã vẫn làm quy trình này hằng ngày. Nó là một nghi thức, một nhu cầu, để gã biết mình còn kết nối với con người.
Xong xuôi, gã khép cửa nhà, băng qua bên kia đường để tới “kho ngủ đông”. Trên tường, con thạch sùng tặc lưỡi sau khi vồ được một chú muỗi bé bằng đầu tăm, cái miệng rộng của nó ngậm chặt lấy con mồi sau đó lẩn vào kẽ tủ, nhưng vẫn thò cái đầu bé tí ra nhìn gã lom lom, một lát sau nó mới lủi đi mất.
Mặc quần áo bảo hộ, gã tiến vào từng khoang, mặc dù điện sáng rực nhưng tay gã vẫn cầm đèn pin để kiểm tra các chùm dây lằng nhằng xanh đỏ bên dưới. Mười năm qua, công việc của gã cứ lặp đi lặp lại như vậy, giống một con quay có quỹ đạo ổn định. Hai năm sau khi nhận việc, gã cảm thấy nhàm chán và bắt đầu nói chuyện với từng khuôn mặt mờ phía sau tấm thủy tinh chứa màn khí lạnh. Gã kể rất nhiều điều, về cánh rừng đã mất ở quê hương, về tháng ngày khát cháy cổ mà không tìm được một giọt nước, về những con vật đang sinh sôi nảy nở phía bên kia hàng rào, về hệ thống rừng rậm dần dần hồi phục, về cảm nghĩ của mình khi gặp các ánh mắt từng đối diện khi họ chưa “ngủ”.
Loáng thoáng thấy bóng hình mình lướt đi qua các mặt kính, gã rờ lên khuôn mặt, vẫn chưa hề xuất hiện nếp nhăn hay dấu hiệu lão hóa.
Ngày ấy, trước lúc tiến vào trong phòng thủ thuật, bố đã hỏi rằng gã có hối hận khi ở lại không. Gã vừa ký vào đơn xác nhận vừa đáp, rằng có.
“Làm sao con sống được một mình.”
“Bao năm qua con vẫn sống một mình mà”
Văng vẳng tiếng bật cười của quá khứ. Bố gã từng là một người cha tốt nhưng cái chết của vợ đã khiến ông sụp đổ. Mẹ gã rất đẹp, bà thường nhốt mình trong phòng đọc sách, mê mải với thế giới riêng. Sau này, gã không còn tìm được bất kỳ ai giống bà nữa. Mẹ gã bị suy tim khi còn trẻ, đến lúc lấy chồng sinh con vẫn cố gắng giữ gìn bản thân. Năm lên tám, gã âm thầm vẽ một chiếc mặt nạ cho lễ hóa trang ở trường. Những tấm mặt nạ ngày càng giống thật, đến mức sau khi đeo lên, gã không biết mình là quỷ hay là người.
Sau khi xây nhà, mẹ gã chọn sơn màu trắng, ánh sáng không mời mà đến ngập khắp mọi nơi. Hôm ấy trời nắng to, gã đeo mặt nạ, trốn ở góc tường, định bụng chờ mẹ đi qua thì tạo cho bà một sự bất ngờ. Bước chân của bà vang lên từ phía đầu cầu thang, gã háo hức chờ đợi, chân tay luống cuống. Trước nay bố luôn không cho gã ở bên mẹ quá lâu, vì sợ bà sẽ mệt. Nhưng một tối, mẹ than rằng nhà đã hết sách mới để đọc rồi nên bà muốn đi ra phố sách, bố phản đối: “Ngoài đấy vừa bụi lại vừa đông, để anh đi cho, em cứ ở nhà nghỉ đi.”
Mẹ gã – đã quen với tính cách của chồng, ghi xuống giấy những tiêu đề sách mà mình cần, ngoài ra còn thêm vào đó một số dụng cụ và thực phẩm khác. Bố gã uống vội cốc cà phê, dành cho vợ một nụ hôn tạm biệt và rời đi. Đó là lần cuối cùng bố hôn mẹ và ngược lại, sau này gã đã nghĩ vậy. Nụ hôn đi theo mẹ trong suốt con đường luân hồi tiếp theo, biết đâu nó sẽ trở thành vật chứng thực cho cuộc tình của họ ở kiếp sau nếu tồn tại một thứ chuyển sinh sau cái chết.
Trở lại với chiếc mặt nạ, phải, gã đeo nó và dường như nó ăn nhập hoàn toàn với khuôn mặt gã khi ấy. Ánh nắng rọi vào chân, gã vội rụt lại trốn nắng, nắng sẽ khiến cho cái bóng của gã hằn rõ trên tường, nắng sẽ khiến trò đùa của gã bị đánh bại. Chân mẹ rất nhỏ, bước chân cũng vậy, tiếng bà đi lại như tiếng chân con mèo hoa dò trên bờ tường.
Gã nhào ra: “Ta là ma đây!”
Bóng của gã hiện rõ rồi, cái bóng bé con với những ngón tay xòe ra như móng vuốt.
Sát na, gã không còn cảm nhận được bất kỳ điều gì, chỉ thấy mặt mẹ tái nhợt, mắt bà trợn tròn lên và môi tím dần, bà ngã xuống, giỏ mây đựng quần áo bẩn lăn lông lốc làm tung ra mấy chiếc áo ngắn nom tựa các thi thể cụt què.
Gã của năm tám tuổi đứng trân trân nhìn mẹ mình nằm trên sàn nhà lạnh ngắt, hơi thở của bà đứt quãng, ánh mắt bà nhìn gã dần trở nên dịu dàng và cuối cùng khép lại với thế giới, khép lại với ánh nắng dần tắt. Gã lê gối đến bên bà, nhấc bà lên, nhưng cơ thể bà mềm oặt sau đó dần cứng lại như súc gỗ, bà rất lạnh. Gã ôm lấy mẹ.
Và gã bật cười, chưa bao giờ gã cảm thấy thoải mái đến vậy, chưa bao giờ gã cảm thấy gần mẹ mình tới vậy kể từ khi sinh ra, gã vùi vào ngực bà. Bóng đêm trùm lấy căn nhà từng ngập nắng, có tiếng xe đỗ lại ngoài cổng, bố gã đẩy cửa vào nhà, hỏi: “Sao không ai bật điện lên thế này? Hai mẹ con đi ngủ rồi à?”
“Tách”, đèn bật sáng, gã nhìn mẹ, trông bà chỉ như đang thiếp đi mà thôi.
Sau đó, đám tang đã nuốt chửng lấy bố. Dường như ông không hề hay biết con trai mình là người đã gây ra cái chết của mẹ, nên ngoài việc làm bạn với thuốc an thần và rượu bia, ông vẫn cố gắng làm tròn vai trò người cha.
Bắt đầu từ năm tám tuổi, gã thường xuyên nhìn thấy mẹ ở mọi nơi trong nhà: phòng tắm, phòng khách, dưới bếp, ngoài vườn, trên sân thượng. Thậm chí ngay cả khi lúc đi ngủ, gã cũng thấy mẹ đứng trước cửa phòng, mỉm cười với mình. Trong mơ, bố cầm dao đuổi theo sau gã, nét mặt hằn vẻ dữ tợn, gã nhanh chóng bị bắt lại, hung khí trên tay bố dí xuống ngày một sát hơn, và đột nhiên, gã thấy ông đang đeo chính chiếc mặt nạ của mình.
Nếu không rời khỏi đó, chắc chắn tôi sẽ phát điên, gã nói.
Vào cấp hai, gã mở lời xin bố cho mình vào học trong một trường nội trú. Ông không do dự khi nói đồng ý, nhưng vào ngày tiễn gã nhập học, ông đột nhiên buông một câu: Con càng ngày càng giống mẹ.
Và rồi, gã thấy mẹ đi theo mình tới trường, vào ký túc xá. Bà không trách mắng gã, chỉ dõi theo và ngồi cạnh mỗi khi gã gặp ác mộng. Bà ngồi trên băng ghế xem gã thi thể chất tại sân vận động, bà ngồi bên bậu cửa sổ phòng ngủ, và im lặng. Dần dà, gã phát hiện ra rằng khi tới tuổi dậy thì, khuôn mặt mình trở nên nhang nhác với mẹ, thậm chí gã từng bị đám bạn học quấy rối một đôi lần.
Gã bần thần nhìn vào mình thông qua sự đóng băng của người khác, hơi lạnh phủ kín, choán lấy tầm mắt, choán lấy cả gương mặt.
2.
Ánh nắng rải xuống mặt đường lấm tấm những cây rau sam chua, một con tắc kè bò ra phơi mình. Đôi khi một số loài vật bé nhỏ vẫn lẩn qua được rào chắn để vào thành phố, chúng không gây hại cho nên đội canh gác vẫn làm ngơ.
Khi con người tạm ngừng hoạt động, đến cả dịch bệnh cũng bị khóa lại ngoài kia, nói đúng hơn, mầm bệnh đều đã bị đẩy ra khỏi vũ trụ. An toàn đến nhàm chán, gã nói.
Cách đây hai mươi năm, các nhà khoa học trên khắp thế giới đã đưa ra yêu sách về môi trường khi hệ thống thực vật, động vật đang dần mất đa dạng và nhiệt độ trái đất tăng cao, rằng loài người phải tìm cách ngừng hoạt động trong vòng hai mươi năm để chúng có thể dần dần khôi phục lại. Biện pháp duy nhất bấy giờ là đông lạnh. Khi ấy, gã mới lên hai.
Biểu tình diễn ra khắp nơi, hết thảy đều lên án về bản kế hoạch đó. Tuy nhiên, đột ngột một ngày nọ, một bản tin được chiếu ngay tại quảng trường về vụ sát hại hơn hai mươi nhà khoa học đang nghiên cứu về quá trình cấp đông sinh vật sống, hơn hết, nó đã được đưa đến khắp mọi nơi trên thế giới, kéo theo sự vào cuộc của cánh báo chí đang khát tin bấy giờ. Hệ thống máy móc được đưa lên các mặt báo, các kênh truyền hình, mạng xã hội kèm với những cuộc thí nghiệm thành công trên cơ thể tình nguyện viên.
Như giọt nước tràn li, chiều hướng dư luận bắt đầu thay đổi, đầu tiên những người mất mạng đang bị phỉ nhổ được tôn lên làm anh hùng, một thời gian sau, mọi người bắt đầu ký vào đơn xin được “ngủ đông”, số lượng lớn những người không tình nguyện mạo hiểm tính mạng mình biến thành “kẻ chăm sóc”, nói đúng hơn là được đào tạo thành kỹ thuật viên chuyên bảo trì máy móc thuộc hệ thống nằm trên toàn cầu, đồng thời bảo vệ đồng loại khỏi nguy cơ từ động vật đang dần nắm lại thiên nhiên tràn vào thành phố dù cho các hàng rào điện tử đã được xây dựng một cách vững chãi.
“Kế hoạch ngủ đông” đã phải trải qua quá trình nghiên cứu và hoàn thiện hơn ba mươi năm, nếu chưa kể tới mầm mống manh nha trước đó nhiều thập kỷ – Gã nói – Để tránh sự diệt vong cận kề, loài người cần phải làm điều này.
Gã bật công tắc khóa cửa kho, đồng thời bật chiếc ghế điện lên. Ngồi xuống, gã bắt đầu đốt thuốc, nheo mắt nhìn về phía bầu trời vương màu xám nhạt, có vẻ như tối nay sẽ mưa. Ở phía đối diện, y cũng đang gà gật bên băng ghế, gã chưa bao giờ hỏi tên của y và họ cũng chưa từng nói chuyện với nhau. Giờ đây, lời nói đã được thay bằng ánh mắt, những nụ cười nhẹ và những cái gật đầu ẩn ý. Gã lôi cuốn sách bỏ túi ra, bắt đầu đọc to các dòng văn trong đó. Nó là một câu chuyện đã cũ, viết cách đây hơn hai trăm năm, về hành trình của một con dế mèn và sự trưởng thành của nó. Các tác giả của những cuốn sách mà gã có đã lùi vào dĩ vãng, chỉ còn tác phẩm ở lại. Giọng của gã đều đều vang lên, nếu không làm thế, gã sợ mình sẽ quên mất cách nói chuyện, sẽ trở nên câm lặng khi thế giới trở về với guồng quay tự nhiên.
Gã quên mất rằng mình nên giới thiệu về y. Đó là một người trạc tuổi gã, dường như đến từ một thành phố khác. Nhưng có hề chi khi tất cả các thành phố ở thời đại này đều giống nhau, sau này y đã nói vậy. Gã cũng cảm thấy điều đó là đúng, trật tự thế giới mới đã đưa toàn bộ kiến trúc vào một khuôn nhất định, điều này sẽ khiến bạn đỡ đi lạc tại nơi mà mình sinh ra, cũng sẽ không bị lạc nếu tới một nơi khác, dần dà vì thế mà chẳng còn mấy người đi du lịch nữa – nhất là sau khi một số đại kỳ quan dần biến mất bởi sự khắc nghiệt của thời tiết.
Khi chuẩn bị chiến dịch ngủ đông, gã từng thấy y đi trên đường, lẫn vào đám đông, y ngoác miệng ra ngáp một cái rõ to, không chỉ ngáp mà trong cổ họng còn phát ra âm thanh ồ ồ khiến mọi người đều phải ngoái đầu nhìn lại. Dường như y không hề ngượng ngùng, thấy vậy chỉ đi thẳng. Gã nhìn thấy y làm điều đó mấy lần và nhận ra một điểm chung, ấy là y chỉ làm thế ở chốn đông người. Đó là một dạng quấy rối, gã nói, trong lòng thấy không mấy thiện cảm.
Sau này, khi thành phố dần vắng lặng, y đã thôi không làm trò nữa, chỉ nằm vật ra giữa đường để cho đám kiến bò qua người hoặc giả ngồi bất động mà chẳng làm gì cả, mỗi lúc ngáp y còn vội vàng che miệng lại. Chẳng có ai nhìn ngó, chỉ trỏ, y thành ra lại tế nhị với chính mình.
Sau này, khi thành phố dần vắng lặng, gã đã bắt chuyện với y. Gã bảo, suy cho cùng thì đây sẽ là người duy nhất ở gần mình trong suốt mấy chục năm, gã muốn sống một mình nhưng lại sợ cô độc.
“Đến cùng thì ở đây chỉ còn tôi và anh, nên là…” Gã bỏ lửng câu nói.
Y nhìn gã, chẳng đáp, đoạn giơ gói thuốc lá ra. Gã cười cười đón lấy, Vina 2190, của hiếm đấy. Y bảo, vẫn nặng hóa chất lắm, rồi liếc qua bìa sách, ở nhà tôi cũng có một cuốn này, là bản năm 2002, nó chỉ còn một phần, khi tôi tìm được thì mối mọt đều oanh tạc non nửa.
Gã bảo rằng y có thể tới nhà mình, ở đó y có một phòng đọc sách riêng biệt với vô vàn đầu sách mà rất có thể đọc cả đời chẳng hết. Công việc chẳng qua cũng chỉ đến thế: kiểm tra hệ thống điện xem có con vật nào mò vào đống dây nhợ lằng nhằng hay có tủ đông nào phát sinh ra vấn đề liên quan tới nhiệt độ không, xong xuôi thì gã chỉ đành tiêu tốn thời giờ của mình vào những cuốn sách hoặc đi dạo loanh quanh bởi điện năng chỉ được dùng tối thiểu nhằm tập trung phục vụ cho chiến dịch ngủ đông. Gã chẳng thể tìm được gì khác để tiêu khiển.
Y kể lại: Tôi không có bố, mẹ tôi chưa từng nhắc tới người đàn ông này, bà nuôi lớn tôi trong một căn nhà ở bên rừng, ở đó bà trồng rất nhiều rau quả và hoa hướng dương. Bà nói mình thích hướng dương, vì nó có thể dẫn người lạc đường tìm thấy mặt trời. Tôi không hiểu những gì mẹ nói. Mẹ tôi thường dẫn tôi vào trong rừng sâu, nơi có một dòng suối gần như cạn kiệt, mà nói đúng hơn nó chỉ còn là một cái lạch nước. Bà xếp những viên đá thành bếp, rửa sạch một phiến đá mỏng khác, đun nó trên than đỏ, sau đó bà nướng thịt đã ướp sẵn lên. Mùi hương của thịt nướng lan tỏa khắp không gian, xa xa có một con chó nhỏ đang lấp ló, nó là chó hoang, tôi có thể nhận ra qua vẻ bề ngoài. Lúc ấy tôi đã hỏi mẹ rằng, bây giờ vẫn còn chó hoang sao? Mẹ bảo, thời nào cũng có những con vật hoang như thế, thật may vì chúng vẫn thoát khỏi sự quản thúc của con người. Lúc đó tôi nhớ tới hình ảnh của lũ thú cưng béo mầm trong thành phố, chúng có thể phơi nắng cả ngày, đôi lúc sẽ ngẩng đầu nhìn người qua đường song vì trọng lượng cơ thể nên chỉ đành nằm đó, chúng di chuyển nhờ vào chủ nhân.
– Trong đôi mắt chúng… – Y nói – Tôi thấy được sự chán chường, bất lực. Sống ở rừng lâu ngày, tôi biết rằng chúng thuộc về thế giới ngoài kia, nơi ngập tràn cỏ xanh và bụi rậm, không ngừng làm chủ lãnh địa, không ngừng chiến đấu, chúng có thể sẽ chết nhưng chí ít chúng cũng được sống mà không phải là tồn tại.
– Mẹ anh giờ ở khu nào? – Gã hỏi.
Y đột nhiên khẽ lắc đầu:
– Mẹ tôi mất rồi. Bà là một trong những nhà khoa học bị sát hại năm đó, bà và đồng nghiệp đã tìm mọi cách để cứu giúp đồng loại của mình… Mặc dù hiện tại nghiên cứu đã được chấp nhận và thực hiện…
Y cảm thấy cổ họng nghẹn bứ hơi thuốc lá, cười giễu:
– Vinh danh thì có ích gì khi người đã mất rồi cơ chứ. Có nhiều lúc tôi đã muốn ngắt toàn bộ hệ thống điện làm lạnh kia, vì tôi biết được trong số những người đó có những kẻ từng chống đối, cười cợt công việc mà mẹ tôi làm, thậm chí có cả tên đã cắt cổ bà vào ngày sinh nhật tôi.
– Nhưng anh đã không làm thế – Gã chợt cảm thấy ruột gan như bị ai đó cầm kim châm vào.
Y nhìn gã rất lâu, rồi gật đầu:
– Phải, vì tôi không phải là họ, tôi không biết cách làm thế nào để có thể ra tay giết hại một con người.
***
Gã bảo, đó là một khoảng thời gian khá dài, tôi với y phóng xe ra biển. Khi đã ở tuổi bốn mươi, tôi mới được nhìn thấy vùng xanh sâu thẳm đó. Tôi lúng túng ôm phao trong khi bạn mình đã bơi ra đằng xa, nghe nói trước đây nơi này có cá mập nhưng chúng đã tuyệt chủng, nên giờ chỉ có thể trải nghiệm hình ảnh dữ tợn đó thông qua máy phát 3D mà thôi.
– Tiếc quá – Y nói – Tôi từng muốn săn cả cá mập cơ.
Gã chưa từng kể cho y nghe về mẹ mình, cũng chưa từng nói rằng lí do mình không dám ra biển là vì sợ sẽ nhìn thấy bà trong bóng dáng của những cuộn sóng bạc. Song giờ này gã nhận ra mình đang lão hóa dần dần, mặc dù cơ thể đã được dùng thuốc để duy trì, gã vẫn đếm được từng vết chân chim trên khóe mắt. Đôi khi y cũng than phiền về điều này, y muốn đến khi cuộc Rã Đông diễn ra thì bản thân vẫn còn đang ở độ tuổi đôi mươi trai trẻ.
– Tôi sẽ yêu, tôi đã nhắm trước một cô gái nom rất xinh xắn đang ngủ đông rồi. Nhưng nếu cơ thể còn già đi thì chẳng mấy chốc tôi sẽ thành chú của cô bé mất.
Gã phá lên cười khi nghe y bộc bạch, thấy bạn mình có vẻ hơi giận, bèn cười cười nói:
– Thực ra, tôi cũng chưa từng có mối tình đầu.
3.
Gã đứng đối diện với bố, tay lau bớt hơi lạnh phả trên kính, tuổi tác và các tế bào trong cơ thể ông đang ngừng lại ở tuổi năm mươi. Ngồi xuống nền gạch, gã tựa mình vào chiếc tủ, ngay dưới chân bố. Khi còn nhỏ, gã thích ngồi đọc sách dưới bãi cỏ sau nhà, bố đứng tưới hoa đằng sau, mẹ thì cặm cụi trong bếp. Gã thích quẩn quanh bên gót của bố, sau khi mẹ mất, gã đâm ra sợ phải gặp ông, thậm chí sống chung một thành phố cũng là chuyện khó khăn.
– Bao năm rồi nhỉ? – Gã nói, rờ lên nếp nhăn trên khóe mắt – Bây giờ con bằng tuổi bố rồi, khi chúng ta gặp lại nhau, không rõ xưng hô có bị gượng không nữa.
Gã bật cười chua chát:
– Có lẽ bố chưa từng biết chuyện này, đó là về sự ra đi đột ngột của mẹ…
Ngày hôm đó, gã đã ở lại trong kho rất lâu, đến tận khi y hoảng hốt tìm tới vì lo gã xảy ra chuyện không hay. Y nhìn gã ôm đầu gục vào đầu gối, hơi lạnh bám trên tóc và quần áo tạo thành lớp màng mờ ảo, rõ ràng là gã đang khóc. Y lại ngước mắt trông chiếc tủ kính sau lưng gã, đó là một người đàn ông tuổi ngoài ngũ tuần, y chợt hiểu ra mọi chuyện, rời gót lùi về phía sau, bước ra ngoài và bắt đầu đốt một điếu thuốc.
Bây giờ thì tôi đã nói hết ra được rồi, gã bảo, thật nực cười phải không? Khi tôi chỉ dám kể ra vào lúc bố mình đang ngủ đông, khi tôi đã đi được nửa đời người. Những có lẽ mọi chuyện đã kết thúc rồi. Trong giấc mơ, tôi thấy mẹ mỉm cười, bà nói bà đang trên đường đi sang thế giới khác.
Lá vàng bắt đầu phủ dày mặt đất, thảng hoặc sẽ có tiếng nghiền lá của máy dọn đường âm vang đứt đoạn nơi thinh không im ắng.
Y ngước mắt lên khi gã đứng trước mắt mình với một chai rượu trong tay.
– Tequila 2081 đây – Gã giơ cái chai với sắc rượu hổ phách ra, nhoẻn miệng nói.
Sau đó, gã chẳng còn nhớ mình đã sống ra sao, có đôi lúc gã và y vào trong siêu thị để tìm đồ ăn vặt cùng với mấy lon bia cho bớt nhàm chán. Trong thời gian này, gã đã chứng kiến sự tiến bộ vượt bậc của khoa học đối với việc nghiên cứu AI, bởi có lần gã thấy một người máy giữ nhiệm vụ trông coi các cửa hàng lẻn ra gần rào chắn để vuốt ve một chú mèo con.
– Ơn trời là dường như chúng đều nhân hậu. – Y nhận xét khi nghe gã kể lại chuyện này.
Gã gật đầu:
– Vậy thì hãy uống vì sự tử tế nhân tạo nào!
Y bật cười. Hai người uống bia dưới bầu trời đầy sao, ngắm đàn đom đóm thắp lên từ phía khu rừng ngoài rào chắn, vỏ lon xếp đầy dưới đất, dường như đến cả gió cũng bị thu hút bởi hơi men bèn náu lên trên tán lá dày.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s